Thứ 2, Ngày 10/7/2016

Lịch sử Đồng Nai

Cập nhật 04/12/2012 11:24
Xem với cỡ chữ

Mối quan hệ lịch sử văn hóa Đồng Nai với các vùng phụ cận – Phần II

  Trong bài chuyên luận về lịch sử các dân tộc miền núi Nam Việt Nam của B.Bourotte, khi đề cập đến cư dân có giả thuyết cho rằng "Vùng đất Đồng Nai - Nam Tây nguyên vào đầu Công nguyên thuộc lãnh địa của vương quốc Phù Nam. Cộng đồng cư dân vùng này đã có sự pha tạp giữa lớp nhân chủng Indonesien bản địa (nguyên Đông Dương) với lớp nhân chủng đã Ấn Độ hóa".

      Cư dân bản địa sống thành từng bộ tộc, trong bộ tộc có nhiều thị tộc nhỏ. Họ quản lý bộ tộc bằng luật tục mang tính cộng đồng, gia đình. Vùng đất cai quản được khái niệm trên lãnh vực mà cộng đồng mình khai phá canh tác. Đứng đầu mỗi bộ tộc là tộc trưởng, người có uy tín đứng ra giải quyết những xích mích trong nội tộc và làm chủ tế các buổi lễ hội. Họ sống trong những chiếc nhà sàn, nhà dài được chia làm nhiều ô cho những gia đình nhỏ trú ngụ. Nhà được làm bằng vật liệu nhẹ từ cây lá rừng, gần nhà cất một kho lúa dùng chung cho một thị tộc. Nhà cất trên những giồng đất gần sông - suối, gần thung lũng để thuận tiện sinh hoạt, sản xuất và giao lưu hàng hóa. Họ theo chế độ mẫu hệ, con theo dòng mẹ, con gái được quí trọng hơn con trai.

      Đời sống kinh tế chủ yếu là nông nghiệp ruộng rẫy. Thương nghiệp cũng phát triển bằng đường hàng hải trên tuyến sông Đồng Nai - bến cảng Cần Giờ với các vùng phụ cận và Đông Nam Á. Sản phẩm trao đổi chủ yếu là các tài nguyên giàu có từ rừng như gỗ, ngà voi, mật, sáp ong để lấy những sản vật mà trong vùng không sản xuất được như vàng, thủy tinh, mã não.... Sản xuất nông nghiệp dựa vào thiên nhiên là chính "ăn rừng, uống nước trời", theo phương thức "hỏa canh, thủy nậu", mang tính tự cấp tự túc. Hình thái kinh tế chiếm đoạt như săn bắt, săn bắn, hái lượm đóng vai trò không nhỏ trong đời sống của họ. Các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp cũng phát triển như tạc tượng, nung gạch, dệt, rèn, đan... Các sản phẩm mang tính kỹ thuật cao như nghề kim hoàn, nấu chảy thủy tinh, đồ gốm tốt được du nhập từ các nơi trong vùng. Nghề chăn nuôi ít phát triển vì gia súc, gia cầm được nuôi chủ yếu phục vụ cho các dịp tế lễ như hiến sinh, lễ cưới, cúng thần..., ít dùng trong sản xuất. Nghề làm gạch tại chỗ theo kiểu thức Ấn Độ chỉ dùng cho việc xây dựng các đền thờ thần linh của Hindu giáo.
 
    Tôn giáo tín ngưỡng nguyên thủy là thờ đa thần, họ quan niệm mọi vật đều có linh hồn như: thờ thần núi, thần rừng, thần sông, thần lửa, thần rẫy, thần lúa. Khi đạo Hindu - Ấn Độ giáo du nhập vào, cư dân ở đây tiếp thu cải biến chủ yếu hai giáo phái thờ Vishnu, Shiva. Trong các di tích không tìm thấy nhiều dạng tượng thờ phối hợp được phát triển sau này như ở miền Tây Nam bộ. Đạo Phật cũng được du nhập nhưng khá muộn. Về sau, do nhiều nguyên nhân lịch sử, Ấn Độ giáo suy tàn. Cư dân trở về với tín ngưỡng truyền thống, thờ đa thần. Hàng năm tổ chức các lễ hội cộng đồng cúng Yang, lễ hội đâm trâu, mừng lúa mới...với những nghi thức độc đáo. Các phế tích kiến trúc đền thờ đạo Hindu - Ấn Độ  giáo không còn được tôn sùng như trước, họ xem là khu vực thần linh, gắn liền với những truyền thuyết, chuyện cổ tích mang tính huyền bí.
 
    Xã hội không phân chia giai cấp rõ ràng, sự giàu nghèo không cách biệt lớn, chủ yếu lấy vật dụng gia đình làm thước đo. Tuy nhiên, trong cộng đồng có những thành phần giàu có với những tài sản như chiêng, chóe, trâu...; thành phần nghèo là không có tài sản; thành phần nô lệ là những chiến binh thất trận, những người ở trừ nợ nhưng không phân biệt đối xử khắc nghiệt, có thể gọi họ là những người ở hơn là nô lệ. Xã hội theo chế độ mẫu hệ, tục thách cưới, ở rể phổ biến rộng rãi. Với quan niệm chết là về thế giới bên kia nên có tục lệ người chết được phân chia tài sản đồng đều với những thành viên trong gia đình và được chôn theo phương thức địa táng, xây dựng nhà mồ và bỏ mã. Gia đình có người chết sau khi an táng xong, ngôi nhà được dời đi nơi khác hoặc đốt làm nhà mới, theo quan niệm để trừ tà ma, bệnh hoạn. Đây có thể là một kiểu thức phản ánh tiêu diệt mầm dịch bệnh đã từng xảy ra trong cộng đồng trước đó.

 

     Lớp cư dân bản địa thuộc hệ ngôn ngữ Môn - Khơmer, dòng Nam Á. Cộng đồng không có chữ viết riêng. Chữ Sanskrít du nhập từ Ấn Độ qua sự truyền bá đạo Hindu thể hiện trên những bia ký đối với họ vô cùng xa lạ.
Trang phục cư dân bản địa rất đơn giản, đàn ông đóng khố, đàn bà mặc váy, ngực để trần. Những tấm thổ cẩm, chăn, váy, khố đều do chính bàn tay họ làm ra từ những cây bông tự trồng, tự dệt; màu sắc tự nhuộm từ nhựa cây rừng; hoa văn trang trí được thể hiện khá tinh xảo.
 
    Trang sức của họ cũng khá cầu kỳ như vòng tay, vòng chân, khuyên tai, vòng cổ bằng đồng, bằng bạc, hạt chuỗi, hạt cườm, mã não nhiều màu sắc. Tục cà răng, căng tai chỉ thể hiện trong một số nhóm cư dân.
 
    Vũ khí là cây cung, cái tên, cái bẫy. Công cụ sản xuất là chiếc dao côi, chà gạc, chiếc rìu, cây chọc tỉa lúa, cối giã, sàn, nia, gùi.... Dù đi đâu như lên rừng, lên rẫy, xuống sông, suối họ đều mang theo dao côi bên hông, chiếc gùi trên lưng, vai mang chà gạc, tay cầm cung tên. Đó là những loại vũ khí tự vệ đồng thời là công cụ săn bắn phục vụ đời sống hàng ngày của họ.
Nhạc cụ là những bộ chiêng được xem như tài sản trong gia đình và vật dùng cúng thần linh trong lễ hội cúng nhang lúa, cúng thần linh, ma chay, cưới hỏi. Ngoài ra còn một số nhạc cụ tự tạo như đàn tre, kèn bầu, kèn môi, kèn lúa.... Trong cộng đồng cư dân còn lưu lại những bài ca truyền miệng, hát giao duyên, ru con, dân ca, trường ca phản ánh tình yêu, công việc làm và những chuyện cổ mang nhiều yếu tố huyền bí; những bài văn cúng thần, những điệu múa.
 
    Cư dân bản địa ở Đồng Nai gồm nhiều bộ tộc có một quá trình phát triển liên tục và sáng tạo. Mỗi bộ tộc có một nét văn hóa riêng, chúng vừa bổ sung, vừa đan xen nhau hình thành một nền văn hóa đa dạng, độc đáo, phù hợp với điều kiện lịch sử, tự nhiên của Đồng Nai.
 
    Vùng đất Đồng Nai từ thế kỷ I đến thế kỷ XV sau Công nguyên là điểm hội tụ, giao lưu của các cộng đồng cư dân. Với điều kiện lịch sử cụ thể của một giai đoạn phát triển có nhiều biến thiên của xã hội, đất Đồng Nai trở thành một vùng đất mở thu hút cư dân Việt đến khai phá, mở ra một thời kỳ phát triển mới.
 
IV-1.png

IV-2.png

 

 Nguồn: Địa chí Đồng Nai, NXB Tổng hợp Đồng Nai, 2001​​

Một cửa điện tử

10/07/2016 Tỉnh đã giải quyết
96%
Hồ sơ đúng hạn

Tổng đài 1022

Đến ngày
10/07/2016
99,70%
Đã xử lý

atlas tỉnh đồng nai

Thư viện hình ảnh

Văn miếu Trấn Biên về đêm
Đá ba chồng Định Quán
Cầu Ghềnh
Văn miếu Trấn Biên
Khu Du lich Buu Long
UBND tỉnh Đồng Nai

Số lượt truy cập

cổng thông tin điện tử tỉnh đồng nai

Cơ quan chủ quản: Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai
Chịu trách nhiệm chính: Ông Nguyễn Minh Hùng – Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông
Địa chỉ: Khu Chung cư B1, đường Nguyễn Ái Quốc, phường Quang Vinh, Tp.Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
Điện thoại: (0251).3827555; Fax: (0251).3827569; Email: dona-ict@dongnai.gov.vn
Ghi rõ nguồn 'Cổng Thông tin điện tử Tỉnh Đồng Nai' hoặc 'www.dongnai.gov.vn' khi bạn phát hành lại thông tin từ Website này.