Thứ 2, Ngày 10/7/2016

Dân hỏi - giám đốc sở trả lời

Cập nhật 02/10/2017 14:33
Xem với cỡ chữ

Chương trình Dân hỏi - Giám đốc Sở trả lời (Kỳ 13, ngày 01/10/2017)

​Hiện nay, khi sự nghiệp đổi mới công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước cũng như công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng đi vào chiều sâu, thì vai trò của ngành tư pháp càng trở nên quan trọng. Đối với Đồng Nai là một tỉnh công nghiệp có dân số đông thì vai trò của ngành tư pháp càng trở nên cần thiết trong việc triển khai, tổ chức và theo dõi thi hành pháp luật trên tất cả các lĩnh vực. Hiện nay, vấn đề cơ bản được Sở Tư pháp Đồng Nai chú trọng cũng như được người dân quan tâm, đó chính là những đổi mới trong cải cách thủ tục hành chính cũng như công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân. Xung quanh vấn đề này, rất nhiều người dân đã bày tỏ những băn khoăn đối với chương trình, chính vì vậy trong tiết mục “Dân hỏi - giám đốc sở trả lời” hôm nay, chúng tôi đã mời đến chương trình ông Viên Hồng Tiến – Giám đốc Sở Tư pháp Đồng nai để cùng trao đổi, giải đáp giúp khán giả những băn khoăn ấy.
Xin cảm ơn ông Viên Hồng Tiến đã nhận lời mời tham gia tiết mục “Dân hỏi - giám đốc sở trả lời” của đài PT-TH Đồng Nai.
Câu hỏi 1: Trước tiên, xin gửi đến ông câu hỏi của anh Trần Văn Thái tại phường Trảng Dài, Tp.Biên Hòa như sau: “ngày 04/7/2017, Chính phủ có ban hành Nghị quyết số 58 về việc đơn giản hóa thủ tục hành chính, giấy tờ công dân liên quan đến quản lý dân cư thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp; theo đó trên các phương tiện truyền thông lại thông tin rằng, khi Nghị quyết có hiệu lực, tức là ngày từ 4-7 sẽ bãi bỏ nhiều thủ tục hành chính trong lĩnh vực hộ tịch, quốc tịch... Vậy vấn đề này phải hiểu như thế nào mới đúng, là đơn giản hóa hay là bãi bỏ các thủ tục hành chính có liên quan?”
Ông Viên Hồng Tiến – Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai trả lời:
Nghị quyết số 58/NQ-CP ngày 04/7/2017 của Chính phủ theo quy định tại phương án ban hành kèm theo có 15 thủ tục được đơn giản hóa thủ tục hành chính như: đăng ký khai sinh, công chứng, bồi thường Nhà nước, hộ tịch..., trong đó bãi bỏ gần 20 thủ tục bao gồm:
- Trong lĩnh vực chứng thực: bỏ quy định yêu cầu người chứng thực nộp bản sao giấy tờ tùy thân.
- Lĩnh vực quốc tịch: bỏ thủ tục thông báo có quốc tịch nước ngoài
- Lĩnh vực hộ tịch: bỏ thủ tục cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.
- Đăng ký khai sinh: bỏ quy định xuất trình
Đây chỉ là bước đầu triển khai từng nhiệm vụ theo đúng lộ trình được xác định tại mục tiêu của Quyết định số 896/QĐ-TTg ngày 08/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tổng thể đơn giản hóa thủ tục hành chính, giấy tờ công dân và các cơ sở dữ liệu liên quan đến quản lý dân cứ giai đoạn 2013 – 2020, chứ không phải bỏ ngay một số thủ tục hành chính trong phạm vi quản lý nhà nước (trong lĩnh vực hộ tịch, quốc tịch…) của Bộ Tư pháp như mọi người thắc mắc.
Tại Điều 2 Nghị quyết số 58/NQ-CP cũng xác định giao trách nhiệm cho Bộ Tư pháp căn cứ nội dung Phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính được Chính phủ thông qua tại Điều 1 Nghị quyết, trong phạm vi thẩm quyền chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan có liên quan sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ thủ tục hành chính, giấy tờ công dân quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật để ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành phù hợp với thời điểm hoàn thành, vận hành của Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Nghị quyết có thực hiện được hay không phụ thuộc vào sự hoàn thiện của Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Nói cách khác khi nào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư hoàn thiện, kết nối với Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử cũng như các cơ sở chuyên ngành khác thì lúc đó mới thực hiện được việc miễn giảm giấy tờ trong thủ tục hành chính.
Và theo quy định về điều khoản chuyển tiếp tại khoản 3 Điều 76 Luật hộ tịch“3. Chính phủ chỉ đạo việc rà soát, bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch, kiện toàn đội ngũ công chức làm công tác hộ tịch bảo đảm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao trong Luật; quy định thủ tục đăng ký khai sinh, kết hôn; cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho công dân Việt Nam; chế độ lập, quản lý, sử dụng Sổ hộ tịch trong giai đoạn chuyển tiếp cho đến khi xây dựng xong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, chậm nhất đến ngày 01 tháng 01 năm 2020 phải thực hiện thống nhất trên toàn quốc theo quy định của Luật này”. Như vậy, dự kiến chậm nhất đến ngày 01/01/2020, khi cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư do Bộ Công an soạn thảo mới hoàn thành. Thông tin quản lý dân cư đều có trong cơ sở dữ liệu này nên người dân sẽ không trình xuất trình các loại giấy tờ như giấy chứng nhận kết hôn, giấy xác nhận tình trạng hôn nhân… khi làm thủ tục. Thực tế, không chỉ Nghị quyết số 58/NQ-CP chờ cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư mà nhiều quy định khác cũng đang đợi. Về cơ sở dữ liệu hộ tịch, Bộ Tư pháp đã thực hiện thí điểm tại 15 tỉnh, trong năm 2017 thì triển khai thêm 13 tỉnh. Khi dữ liệu hộ tịch và dữ liệu dân cư được đồng bộ, kết nối sẽ giảm tiếp được nhiều thủ tục, chi phí.
Tóm lại, hiện nay các thủ tục hành chính về tư pháp vẫn thực hiện bình thường theo các quy định hiện hành. Còn Nghị quyết số 58/NQ-CP thì chưa thực hiện ngay, mà Bộ Tư pháp đang triển khai thực hiện thí điểm các Đề án theo lộ trình đến năm 2020.
Câu hỏi 2:  Xin ông cho biết theo lộ trình thì việc đơn giản hóa các thủ tục hành chính theo Nghị quyết số 58 của Chính phủ thì Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh triển khai, thực hiện như thế nào tại địa phương.
Ông Viên Hồng Tiến – Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai trả lời:
Thực hiện Chỉ thị số 07/CT-TTg ngày 13/3/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường phối hợp triển khai xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Tỉnh Đồng Nai đã cụ thể hóa các nội dung Đề án, Kế hoạch của Bộ Tư pháp, cụ thể hiện tại Ủy ban nhân dân tỉnh đã giao trách nhiệm cho Công an tỉnh chủ trì, phối hợp với Sở Tư pháp tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh thành lập Ban chỉ đạo triển khai Đề án 896 tại địa phương theo hướng dẫn của Ban Chỉ đạo đề án 896 .
Trên cơ sở chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Tư pháp tham gia phối hợp với Công an tỉnh trong việc tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh thành lập Ban chỉ đạo 896 cấp tỉnh; Chỉ thị về việc tăng cường phối hợp triển khai xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, hiện nay các dự thảo này đang hoàn chỉnh trình Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành.
Bên cạnh đó, Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai cũng tập trung, khẩn trương tiến hành triển khai nhiệm vụ rà soát, sửa đổi các văn bản do địa phương ban hành trong công tác quản lý dân cư phục vụ việc ứng dụng hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư thống nhất, hiệu quả, đặc biệt trong giải quyết thủ tục hành chính cho người dân theo chỉ đạo của Ban chỉ đạo Trung ương, Bộ Tư pháp đảm bảo thực hiện kịp thời theo đúng lộ trình đề ra.
Câu hỏi 3: Có rất nhiều những công nhân lao động gửi thư đến chương trình, họ cho biết bản thân rất quan tâm đến những điều luật mới được Quốc hội ban hành hiện nay, vậy Sở Tư pháp có những cách nào để giúp cho người dân, nhất là công nhân lao động nắm bắt được những luật mới này?”
Ông Viên Hồng Tiến – Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai trả lời:
Để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định: “Nhà nước quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật”. Nhiệm vụ đầu tiên là phải ban hành pháp luật, tiếp đến là tổ chức thực hiện pháp luật, trong đó, nhiệm vụ tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) được xem là cầu nối để đưa các chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với các tầng lớp nhân dân. Mục đích của nhiệm vụ tuyên truyền, PBGDPL là nhằm xây dựng ý thức pháp luật, làm cho nhân dân, cán bộ, công chức có lòng tin vào pháp luật, có thói quen, động cơ tích cực trong thực hiện pháp luật.
Nhận thức rõ vai trò và tầm quan trọng của công tác tuyên truyền, PBGDPL, trong những năm qua, Đảng bộ các cấp, các ngành trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đã triển khai nhiều hoạt động thiết thực. Các hoạt động này một mặt làm cho pháp luật của Nhà nước đi vào đời sống xã hội, nâng cao nhận thức và hành động phù hợp với pháp luật của các tầng lớp nhân dân trong tỉnh, mặt khác làm cho xã hội của tỉnh đi vào ổn định và trật tự. Đây là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị trong tỉnh, trong đó, lực lượng chủ đạo, nòng cốt trong hoạt động này là Hội đồng phối hợp PBGDPL tỉnh.
Trong những năm qua, Hội đồng phối hợp PBGDPL tỉnh đã bám sát kế hoạch hoạt động, quan tâm tư vấn, tham mưu hoàn thiện thể chế về PBGDPL, hòa giải ở cơ sở; hướng dẫn các cơ quan, đơn vị xác định những nội dung pháp luật trọng tâm cần phổ biến, gắn với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh của tỉnh; Sở Tư pháp với vai trò là cơ quan thường trực Hội đồng phối hợp PBGDPL tỉnh, kịp thời tham mưu giúp Hội đồng phối hợp PBGDPL, tư vấn cho Ủy ban nhân dân tỉnh các giải pháp để thực hiện có hiệu quả công tác tuyên truyền, PBGDPL, ban hành các kế hoạch và tổ chức triển khai các Luật được Quốc hội thông qua ; tổ chức hưởng ứng “Ngày pháp luật Việt Nam” hàng năm;... qua đó đã tạo thành đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn tỉnh, huy động sự tham gia của cả hệ thống chính trị và nhân dân trong tỉnh.
Ngoài ra, công tác củng cố, kiện toàn đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền pháp luật trên địa bàn tỉnh cũng đã được quan tâm; công tác tập huấn nghiệp vụ, bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền pháp luật đã được thực hiện, thông qua hoạt động của đội ngũ này các Luật mới ban hành đã kịp thời tuyên truyền, phổ biến đến người dân.
Vì vậy, trong thời gian qua các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh bằng nhiều hình thức tuyên truyền, PBGDPL phong phú, đa dạng phù hợp, nội dung của Hiến pháp năm 2013 và nhiều văn bản luật do Quốc hội khóa XIII ban hành tại kỳ họp thứ 8, 9, 10, 11 và tại kỳ họp thứ 1,2,3 Quốc Hội khóa XIV được tuyên truyền, phổ biến kịp thời, sâu rộng trong cán bộ và Nhân dân địa phương.
Công tác tuyên truyền, PBGDPL cho người dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số được quan tâm thực hiện thường xuyên, kịp thời góp phần tạo sự chuyển biến về nhận thức và chấp hành pháp luật của người dân nông thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Riêng đối với công nhân lao động, thời gian qua Sở Tư pháp phối hợp với Liên đoàn lao động tỉnh chỉ đạo các cấp Công đoàn trong tỉnh bám sát nội dung tuyên truyền, vận động đoàn viên và người lao động thực hiện đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và những nội quy, quy định của đơn vị, doanh nghiệp. Hằng năm, Liên đoàn Lao động tỉnh đều tổ chức các lớp tuyên truyền, phổ biến, tư vấn và hỗ trợ pháp luật cho người lao động tại doanh nghiệp, khu nhà trọ, trung tâm và các văn phòng tư vấn pháp luật của Công đoàn.
Phương pháp chính và mang lại hiệu quả cao là tuyên truyền miệng, đặc biệt là mô hình nhóm công nhân nòng cốt. Ngoài ra, còn tuyên truyền qua kênh thông tin báo Lao động Đồng Nai, cấp phát các cẩm nang theo chuyên đề cho công nhân, qua fanpage “Điểm hẹn công nhân”, thông qua các Hội thi... Kết quả đã có khoảng 80% đoàn viên, người lao động được tuyên truyền, phổ biến pháp luật và giáo dục chính trị - tư tưởng. Số vụ đình công, lãn công quy mô lớn, kéo dài giảm đáng kể; trên 60% đoàn viên, người lao động được tuyên truyền, vận động, học tập nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp…
Câu hỏi 4: Chị Nguyễn Thị Hoa ở huyện Xuân Lộc có gửi đến chương trình câu hỏi như sau: “tôi là một nông dân, thường xuyên chăm lo đồng áng nên không nắm bắt được đầy đủ các thông tin về pháp luật, vậy xin chương trình cho biết, với điều kiện sống và làm việc ở nông thôn như tôi thì làm cách nào để có thể tìm hiểu và nắm bắt các thông tin về pháp luật?”
Ông Viên Hồng Tiến – Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai trả lời:
Như đã trình bày, công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) được xem là cầu nối để đưa các chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với các tầng lớp nhân dân và hiện nay hoạt động giáo dục pháp luật ở Việt Nam nói chung và ở Đồng Nai nói riêng rất đa dạng, người dân ở nông thôn muốn tìm hiểu pháp luật thì tìm hiểu thông qua các hình thức sau:
Thứ nhất: Tham dự các cuộc tuyên truyền miệng, đây là hình thức phổ biến nhất trong việc giáo dục pháp luật hiện nay không chỉ tại Việt Nam mà tại tất cả các nước trên thế giới. Ở hình thức này, người nói trực tiếp nói với người nghe về một lĩnh vực pháp luật mà trong đó chủ yếu là các văn bản pháp luật trong lĩnh vực đó nhằm nâng cao nhận thức về pháp luật, niềm tin vào pháp luật và ý thức pháp luật cho người nghe và kích thích người nghe làm việc theo chuẩn mực pháp luật. Ưu điểm của việc tuyên truyền pháp luật bằng miệng đó là tính linh hoạt trong hoạt động tuyên truyền giáo dục pháp luật, người nói và người nghe có thể trao đổi trực tiếp với nhau; tạo điều kiện để công tác giáo dục pháp luật được thuận tiện hơn.
Thứ hai: Tìm hiểu pháp luật thông qua sách báo, các văn bản pháp luật và các tài liệu có liên quan, đây là hình thức giáo dục pháp luật mà ở đó mọi người có thể tìm hiểu hệ thống các văn bản pháp luật thông qua sách báo (báo in, báo hình, loa đài truyền thanh cơ sở…) qua đó giúp người dân có thể tìm hiểu cũng như nhận thức được các văn bản pháp luật do các cơ quan ban ngành công bố. Việc giáo dục pháp luật thông qua sách báo và các tài liệu liên quan có ưu điểm rất lớn, giúp cho người dân có thể tiếp cận các văn bản pháp luật một cách chính xác, đơn giản và dễ dàng.
Thứ ba: Tìm hiểu pháp luật trong học đường Việc giáo dục pháp luật trong học đường đóng vị trí và vai trò quan trong trong việc nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân, đặc biệt là việc giáo dục pháp luật trong thế hệ thanh niên Việt Nam hiện nay. Đó là việc đưa pháp luật vào trong học đường nhằm mục tiêu đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện. Ưu điểm của việc giáo dục pháp luật trong học đường góp phần quan trọng vào việc giáo dục pháp luật cho thế hệ tương lai – những chủ nhân của đất nước, đồng thời qua đó có thể dựa vào thế hệ này để tuyên truyền và giáo dục pháp luật cho công dân.
Thứ tư: Tìm hiểu pháp luật thông qua Tủ sách pháp luật, việc phổ biến pháp luật thông qua tủ sách pháp luật là một phương pháp phổ biến giáo dục mới nhưng đã tỏ ra hiệu quả trong việc đưa pháp luật vào trong đời sống cũng như giúp mọi người thêm hiểu thêm về hệ thống pháp luật Việt Nam, nhất là bà con nhân dân ở vùng nông thôn. Thông qua tủ sách pháp luật người dân có thể tìm hiểu, nghiên cứu, đọc các sách, tài liệu pháp luật của Tủ sách, người đọc có thể tập hợp nghiên cứu, tìm hiểu, vận dụng các quy định pháp luật.
Thứ năm: Tìm hiểu pháp luật thông qua hoạt động hòa giải ở cơ sở và các loại hình tư vấn pháp luật, hoạt động hòa giải ở cơ sở và tư vấn tư vấn pháp luật thực chất đó là hoạt động giải thích pháp luật của các cá nhân, cơ quan, tổ chức, có thẩm quyền hoăc am hiểu vể pháp luật nhằm cung cấp dịch vụ pháp lý cho công dân, đảm bảo cho quyền và nghĩa vụ của công dân được đảm bảo. Đồng thời thông qua đó có thể nâng cao được ý thức pháp luật cho công dân, là cầu nối quan trọng giữa người xây dựng pháp luật, áp dụng pháp luật, thực thi pháp luật và những đối tượng của việc áp dụng pháp luật.
Thứ sáu: Tìm hiểu pháp luật thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý, trợ giúp pháp lý là sự giúp đỡ miễn phí của các tổ chức trợ giúp pháp lý của Nhà nước cho người nghèo, đối tượng chính sách và đồng bào dân tộc thiểu số tiếp cận với các dịch vụ pháp lý (tư vấn pháp luật, đại diện, bào chữa) nhằm bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật và thực hiện công bằng xã hội. Giáo dục pháp luật thông trợ giúp pháp lý sẽ giúp các đối tượng nắm bắt được các thông tin pháp lý, hiểu được quyền và nghĩa vụ của mình trong các quan hệ pháp luật, hướng dẫn phương pháp xử sự các hoàn cảnh cụ thể phù hợp với pháp luật và tránh được những hậu quả pháp lý bất lợi, hướng dẫn công dân, tổ chức tôn trọng và thi hành nghiêm chỉnh pháp luật, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Ngoài ra người dân nông thôn còn có thể tìm hiểu pháp luật thông qua các hình thức tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật khác như:
- Thông qua sinh hoạt các câu lạc bộ pháp luật, các hoạt động sinh hoạt văn hóa, văn nghệ hoặc các cuộc thi tìm hiểu pháp luật.
- Thông qua ứng dụng công nghệ thông tin: Báo điện tử; Trang thông tin điện tử, mạng Internet; phát thanh truyền hình…
- Thông qua việc xây dựng, thực hiện hương ước thôn, làng, bản, ấp, quy chế cơ quan, điều lệ tổ chức đoàn thể xã hội.
- Thông qua việc ký cam kết không vi phạm pháp luật của cá nhân, gia đình và các tổ chức cộng đồng xã hội.

Quý bạn đọc có thể xem lại file video của chương trình tại địa chỉ:

https://www.dongnai.gov.vn/Pages/video.aspx?v=/Video%20clip/AskT10.mp4

Một cửa điện tử

10/07/2016 Tỉnh đã giải quyết
94.9%
Hồ sơ đúng hạn

Văn bản qua mạng

Đến ngày 10/07/2016 Tỉnh đã trao đổi
1.576.658
Văn bản qua mạng

Tổng đài 1022

Đến ngày
10/07/2016
99,50%
Đã xử lý

atlas tỉnh đồng nai

Thư viện hình ảnh

Văn miếu Trấn Biên về đêm
Đá ba chồng Định Quán
Cầu Ghềnh
Văn miếu Trấn Biên
Khu Du lich Buu Long
UBND tỉnh Đồng Nai

Số lượt truy cập

cổng thông tin điện tử tỉnh đồng nai

Cơ quan chủ quản: Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai
Chịu trách nhiệm chính: Ông Lê Hoàng Ngọc - Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông
Địa chỉ: Khu Chung cư B1, đường Nguyễn Ái Quốc, phường Quang Vinh, Tp.Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
Điện thoại: (0251).3827555; Fax: (0251).3827569; Email: dona-ict@dongnai.gov.vn
Ghi rõ nguồn 'Cổng Thông tin điện tử Tỉnh Đồng Nai' hoặc 'www.dongnai.gov.vn' khi bạn phát hành lại thông tin từ Website này.