Thứ 2, Ngày 10/7/2016

Lịch sử Đồng Nai

Cập nhật 04/12/2012 11:17
Xem với cỡ chữ

Mối quan hệ lịch sử văn hóa Đồng Nai với các vùng phụ cận – Phần I

    Trên cơ sở nghiên cứu khảo cổ học và sử liệu, có thể nói rằng trên đất Đồng Nai vết tích con người tồn tại - phát triển khá liên tục từ thời kỳ đá cũ - đá mới - kim khí đến khi người Việt vào khai phá. Cư dân ở đây không chỉ cùng chung con đường tiến hóa trong vùng mà còn hội nhập, kế thừa, phát triển văn hóa bản địa hài hòa với địa sinh thái trong vùng.​

    Từ những thế kỷ trước Công nguyên thuộc thời kỳ kim khí, cư dân ở đây đã có sự giao lưu văn hóa giữa các tộc người Ấn Độ và Đông Nam Á bằng đường biển thông qua cửa biển Cần Giờ, dần dần du nhập vào đất liền. Thương hải cảng Cần Giờ được xem là đầu cầu quan trọng, một trung tâm hưng thịnh giao lưu kinh tế - văn hóa trong vùng và đạo Hindu - Ấn Độ giáo cũng được du nhập vào vùng Đồng Nai. Nơi đây có thể là điểm khởi đầu của những công trình kiến trúc tôn giáo mà phát triển cực thịnh về sau ở Óc Eo, bởi những di tích kiến trúc thuộc giai đoạn văn hóa này được biết đến nay có niên đại khá sớm so với đồng bằng Nam bộ.
 
    Ở vùng Đông Nam Á, một số bộ tộc hùng mạnh, hình thành nhà nước sơ khai, thành lập vương quốc. Mở đầu cho việc hình thành nhà nước là Vương quốc Phù Nam rồi đến Champa. Chiếm cứ cả một vùng rộng lớn từ đèo Cả đến Nam bộ Việt Nam ngày nay. Đây là hai vương quốc chịu Ấn hóa mạnh mà các học giả phương Tây gọi là "Ngoại Ấn". Ở vùng Đồng Nai, Champa thuộc về phía Đông, Phù Nam thuộc về phía Tây, vùng này nằm đệm giữa hai vương quốc lớn. Theo sử liệu thì cùng thời với vương quốc Phù Nam có nước Bà Lợi đi triều cống nước Trung Hoa. Có lẽ Bà Lợi thuộc vùng đất Đồng Nai, thần phục Phù Nam.

    
    Từ khi vương quốc Phù Nam hình thành, đất nước chia ra nhiều thành bang, một số thành bang có tên chữ đầu là núi, rừng, gò, sông... và sử liệu cho biết vào thế kỷ XIII có đến 74 nước lớn nhỏ ở bán đảo Đông Dương và quần đảo Nam Dương, lấy tên đất, tên bộ tộc đặt tên nước. Ngày nay, nhiều giả thiết của các nhà nghiên cứu có thể chấp nhận được về tên một số nước nằm trên vùng này như nước Xích Thổ nằm giữa Bà Rịa - Xuyên Mộc ngày nay, nước Bà Lợi xưa là Bà Rịa nay, nước Can Đà Lợi và Xích Thổ là Biên Hòa ngày nay; dân tộc Xtiêng là nước Xtiêng, dân tộc Mạ có nước Chê Mạ, dân tộc Gia Ray có nước Thủy Xá và Hỏa Xá... Có lẽ nên gọi những quốc gia trên là bộ tộc thì đúng hơn vì nó khác với vương quốc Champa, Phù Nam hay Chân Lạp. Như vậy, trên vùng đất Đồng Nai thời kỳ văn hóa Óc Eo - Phù Nam có nhiều bộ tộc cộng cư, cùng phát triển kinh tế - văn hóa trong vùng.

      Vương quốc Phù Nam xây dựng thương hải cảng Óc Eo và phát triển khá mạnh vào thế kỷ III - IV, thương hải cảng Cần Giờ mất dần thế chủ động, tuy nhiên không phải mất hẳn khi mà các sản vật địa phương còn khá dồi dào, thu hút các thương gia. Ở Óc Eo cư dân định cư, phát triển thương mại, tôn giáo cũng thịnh hành. Các di tích kiến trúc đền thờ đạo Hindu được phát triển khá tập trung và di vật vô cùng phong phú với nhiều dạng, nhiều loại mang truyền thống văn hóa cả một vùng rộng lớn Nam Ấn Độ, Thái Lan, Malaysia...

     Kinh đô Phù Nam đóng ở Ba Phnom thuộc tỉnh Prey Ven, Đông Nam Campuchia ngày nay. Hệ thống cai trị theo thể chế quân chủ chuyên chế, đứng đầu là một vị vua, xã hội phân chia giai tầng theo thể chế của Ấn Độ. Vùng Đồng Nai lệ thuộc Phù Nam trên danh nghĩa vì vùng này ở quá xa trung tâm chính trị, phương tiện đi lại, liên lạc khó khăn. Các bộ tộc ở đây tự tổ chức quản lý theo tập tục truyền thống là chính. Hơn nữa, các bộ tộc vốn thích sống tự do với tín ngưỡng thờ đa thần và không muốn ràng buộc trong thể chế chính trị, chữ viết, tôn giáo quá mới lạ; nên họ dần dần tách khỏi vương quyền lui về các thung lũng, xung quanh là rừng núi ở phía Nam dãy Trường Sơn. Song cũng có bộ tộc tiếp thu văn hóa Óc Eo - Phù Nam, du nhập đạo Hindu - Ấn Độ giáo, xây dựng những đền thờ mang kiểu thức truyền thống Ấn Độ kết hợp với truyền thống kiến trúc bản địa, hình thành nét kiến trúc mới.
 
    Trên vùng trung lưu sông Đồng Nai, khảo cổ học phát hiện một cụm gồm nhiều di tích kiến trúc gạch có dạng đền tháp, mộ cổ của đạo Hindu được phân bố hai bên bờ sông Đồng Nai thuộc huyện Cát Tiên (Nam Lâm Đồng) và huyện Tân Phú (Bắc Đồng Nai). Một số di tích kiến trúc, mộ táng đã được khai quật và thu thập số lượng lớn các di vật gồm tượng thờ và vật thiêng mang đặc trưng văn hóa hậu Óc Eo. Có thể cụm di tích này có mối quan hệ mật thiết với các di tích khác cùng thời ở vùng hạ lưu sông Đồng Nai. Bước đầu đoán định là trung tâm của vương quốc Châu Mạ.
 
    Giữa thế kỷ VI, Chitrasena thôn tính Phù Nam, hình thành vương quốc Chân Lạp. Vùng đồng bằng Nam bộ bị ngập nước. Cư dân chuyển dần lên vùng cao, kinh đô Chân Lạp xây dựng vùng Tonle Sáp (Biển Hồ), thương hải cảng chuyển về vùng eo biển Malacca và bờ biển Đông Nam Xumatra, nên các di tích kiến trúc đền thờ đạo Hindu không thấy xuất hiện trong vùng đồng bằng châu thổ sông Cửu Long. Chúng được xây dựng trên những giòng đất cao ven sông, suối, chủ yếu trên địa phận Kampuchia ngày nay. Các di tích kiến trúc mang truyền thống đa các (Phù Nam), hồ nước (Chân Lạp). Di vật được thờ vô cùng phong phú, đa dạng. Đạo Phật cũng được du nhập vào với hai giáo phái Đại thừa và Tiểu thừa.
 
    Trong khi đó, trên vùng đất Đồng Nai di tích kiến trúc đền thờ đạo Hindu - Ấn Độ giáo được tìm thấy trên khắp vùng đồi núi, trung lưu và hạ lưu đồng bằng cận biển. Di tích kế thừa truyền thống kiến trúc văn hóa Óc Eo trước đó. Di vật chủ yếu là tượng thần thuộc hai giáo phái Vishnu và Shiva mang phong cách nghệ thuật Óc Eo. Có thể nói ở Đồng Nai tiếp tục kế thừa văn hóa Óc Eo, hình thành văn hóa hậu Óc Eo.
 
    Từ thế kỷ X về sau, giữa các vương quốc lớn luôn xảy ra chiến tranh tranh giành lãnh thổ, làm cho vương quyền suy yếu mất dần thế lực các vùng xa. Các bộ tộc dần tự chủ, hình thành các vương quốc mới. Vùng Đồng Nai nằm trên con đường chinh chiến của hai vương quốc Chân Lạp - Champa nên có ảnh hưởng văn hóa của nhau nhưng vẫn kế thừa văn hóa Óc Eo, hình thành nền văn hóa bản địa.
 
    Từ thế kỷ XIV - XV vương quốc Chân Lạp dần suy thoái không còn vươn tới các vùng "Ngoại Ăng co". Vùng phía Đông, Vương quốc Champa phải rời bỏ kinh đô Vijaya (Đồ Bàn) bởi sự lớn mạnh của Đại Việt. Nội bộ hoàng tộc bất ổn định, Vương quyền suy yếu thu dần phạm vi lãnh thổ với kinh đô Panduranga (Phan Rang). Bấy giờ, vùng Đồng Nai không còn ảnh hưởng Ăng co phía Tây và chi phối quyền lực Champa phía đông. Có lẽ bia ký lịch sử phía sau tượng thần Vishnu Bửu Sơn là chứng tích cuối cùng của Champa. Vùng đất này trở nên hoang hóa chỉ có những tộc người bản địa sống ở các thung lũng vùng cao, mà Châu Đạt Quan miêu tả trong tập Hải ngoại ký sự "Bắt đầu từ Châu Bồ (Vũng Tàu hay Bà Rịa) hầu hết cả vùng đều là bụi rậm của khu rừng thấp, những cửa rộng của con sông lớn chạy dài hàng trăm lý, bóng mát um tùm của những gốc cổ thụ và cây mây dài tạo thành nhiều chỗ trú xum xuê. Tiếng chim hót và thú vật kêu vang vội khắp nơi. Vào nửa đường trong cửa sông, người ta mới thấy lần đầu cánh ruộng bỏ hoang, không có một gốc cây nào. Xa hơn tầm mắt chỉ toàn là cỏ kê đầy dẩy, hàng trăm, hàng ngàn trâu rừng tụ hợp từng bầy trong vùng này. Tiếp đó, nhiều con đường dốc đầy tre chạy dài hàng trăm lý...".
 
    Từ thế kỷ XVI vùng đất Đồng Nai hẳn có sự chuyển đổi cơ tầng xã hội bởi có những tập đoàn người Việt, người Hoa di dân vào khai phá xứ Đồng Nai mà khảo cổ học tìm thấy những vết tích văn hóa Lý, Trần ở Đại Làng; những loại hình đồ gốm trong bộ sưu tập gốm sứ dưới lòng sông Đồng Nai và vết tích cư trú khá dầy đặt trong vùng.
 
    Theo kết quả nghiên cứu nhân chủng học trên những chiếc sọ cổ được tìm thấy ở các di tích An Sơn, Óc Eo (An Giang), Cạnh Đền (Kiên Giang), Gò Tháp (Đồng Tháp), gò Cái Lăng (Cần Giờ), gò Ô Chùa (Long An) và trong nhiều loại hình mộ táng: song táng, cải táng, địa táng cho thấy: di cốt sọ người thuộc chủng Indonesien, có tầm vóc trung bình, nam 1,62 m, nữ 1,60 m; gần gũi với tầm vóc dân tộc ít người hiện nay. Trước kia, họ cư ngụ trên vùng đất rộng lớn từ sông Tiền đến Tây nguyên. Do nhiều yếu tố tác động như chính trị, tôn giáo, chiến tranh, họ chuyển dần về vùng núi Nam Tây nguyên tự trị. Có lẽ hậu duệ của họ là cư dân bản địa Châu Mạ, Xtiêng, Chơro, Cơho, Mnông... đang sinh sống ở phía Bắc Đồng Nai, Bình Phước, Nam Lâm Đồng ngày nay. Những hình ảnh về một thời hoàn kim của họ còn lại trong ký ức được thể hiện thông qua một số tập quán, huyền thoại và trong những truyền thuyết dân gian.
 
    
Nguồn: Địa chí Đồng Nai, NXB Tổng hợp Đồng Nai, 2001​​

 

Một cửa điện tử

10/07/2016 Tỉnh đã giải quyết
95.2%
Hồ sơ đúng hạn

Văn bản qua mạng

Đến ngày 10/07/2016 Tỉnh đã trao đổi
882.439
Văn bản qua mạng

Tổng đài 1022

Đến ngày
10/07/2016
99,57%
Đã xử lý

atlas tỉnh đồng nai

Thư viện hình ảnh

Văn miếu Trấn Biên về đêm
Đá ba chồng Định Quán
Cầu Ghềnh
Văn miếu Trấn Biên
Khu Du lich Buu Long
UBND tỉnh Đồng Nai

Số lượt truy cập

cổng thông tin điện tử tỉnh đồng nai

Cơ quan chủ quản: Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai
Chịu trách nhiệm chính: Ông Lê Hoàng Ngọc - Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông
Địa chỉ: Khu Chung cư B1, đường Nguyễn Ái Quốc, phường Quang Vinh, Tp.Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
Điện thoại: (0251).3827555; Fax: (0251).3827569; Email: dona-ict@dongnai.gov.vn
Ghi rõ nguồn 'Cổng Thông tin điện tử Tỉnh Đồng Nai' hoặc 'www.dongnai.gov.vn' khi bạn phát hành lại thông tin từ Website này.