Thứ 2, Ngày 10/7/2016

Lịch sử Đồng Nai

Cập nhật 04/12/2012 11:04
Xem với cỡ chữ

Những dấu tích văn hóa các quốc gia cổ trên đất Đồng Nai – Phần II

Vương quốc Chân Lạp với văn hóa Ăng Co - hậu Óc Eo và các vết tích văn hóa​

    Giữa thế kỷ VI, một người có tên Chitrasena ở Bassac (Nam Lào) là một thành bang của vương quốc Phù Nam nổi lên thôn tính Phù Nam thành lập vương quốc Chân Lạp. Cũng trong thời kỳ này biển tiến theo chu kỳ Hôlôxen IV, vùng đồng bằng Nam bộ ngập trong biển nước. Cư dân cổ Óc Eo chuyển dần lên những giòng đất cao ven sông, suối. Kinh đô Chân Lạp đóng ở vùng Tonle Sáp (Biển Hồ). Thương cảng Óc Eo không còn thế đứng, chuyển về eo biển Malacca và bờ biển Đông - Nam Xumatra (Indonesia). Điều này phản ánh việc các di tích khảo cổ học thuộc giai đoạn lịch sử này được phát hiện với số lượng ít trên vùng đồng bằng sông Cửu Long mà tập trung nhiều ở vùng phù sa cổ ven phía Tây - Bắc đồng bằng Nam bộ.
 
    Di tích kiến trúc có ký hiệu B ở Óc Eo và di tích kiến trúc ở Rộc Chanh (Long An) được xác định vào khoảng thế kỷ V - VI sau Công nguyên, có thể coi là dạng kiến trúc đền tháp đầu tiên được tiếp nối văn hóa Óc Eo - hậu Óc Eo. Ngoài ra còn có di tích Prasat Preah Theat Toc trong khu di tích thành cổ Banteay Prei Angkor thuộc tỉnh Kompong Cham (Kampuchia) và kiến trúc có ký hiệu N19 trong quần thể kiến trúc Sambor Prei Kus trong khu thành cổ Isanapura, tỉnh String Trong (Kampuchia) có niên đại khoảng thế kỷ VI về sau, được xem là kiến trúc giao thời cuối Phù Nam đầu Chân Lạp. Loại kiến trúc này thuật ngữ khoa học gọi là "kiến trúc đa các" (kiến trúc nhiều tầng). Kiến trúc đa các được phát hiện khá phổ biến ở Kampuchia vào thế kỷ VII - VIII, điển hình là kiến trúc Prasat That Thom, Prak Bayang tỉnh Pray Ven (Kampuchia). Dạng di tích có kiến trúc đền tháp, xung quanh bàu nước bao bọc hoặc ở cửa chính có thể xuất xứ ở vùng hạ lưu sông Semun (phía Đông miền Trung Thái Lan ngày nay). Nơi định cư ban đầu của cộng đồng người Chân Lạp. Tại đây có di tích Vat Phu Lai Rong được khởi dựng từ thế kỷ V sau Công nguyên. Loại hình này trở thành loại hình kiến trúc truyền thống của Chân Lạp. Trong quá trình mở rộng lãnh thổ về phía Tây và phía Nam, chinh phục Phù Nam vào thế kỷ VI sau Công nguyên, cư dân Chân Lạp tiếp tục phát triển loại hình kiến trúc hồ nước truyền thống và kế thừa, kết hợp kỹ thuật kiến trúc đa các Phù Nam. Dạng kiến trúc đền tháp - hồ nước chủ yếu phân bố trên lãnh thổ Kampuchia ngày nay. Vùng châu thổ sông Cửu Long và lưu vực sông Đồng Nai hầu như không có dạng kiến trúc này và các cấu kiện đặc trưng của nó.
     Trên vùng đất Đồng Nai loại hình di tích kiến trúc thuộc thời kỳ này được phân bố rộng khắp trong vùng như Đạ Lắk, Nam Cát Tiên (Tân Phú), Suối Ràng, Đồng Bơ, Bàu Sen (Vĩnh Cửu), Rạch Đông (Thống Nhất), Bến Gỗ, Gò Bường (Long Thành) và nhiều di vật ở khu vực Biên Hòa. Các di tích được xây dựng khá xa nhau nhưng có chung một kiểu thức kiến trúc đơn giản với bình đồ hình vuông, riêng di tích Gò Bường có bình đồ hình chữ nhật nhưng có niên đại khá muộn. Di tích đều được kết cấu hai phần: phần dương dùng gạch xây đền tháp, hẹp dần về đỉnh tạo mái che cho phần âm là huyệt thờ, tường thường thẳng không tạo cột giả, cửa giả, ít mi cửa, trên cửa điêu khắc nhiều chi tiết. Phần âm thường xây huyệt thờ hình vuông bằng gạch, có di tích dựa vào thế đá tự nhiên đục làm huyệt thờ (Đạ Lắk, Bàu Sen). Trong huyệt chôn tượng thần hay một bộ phận của tượng, mảnh vàng khắc hình thiêng, mã não, đá quý. Những di vật gồm mảnh kim loại bằng vàng khắc họa hình rùa, hoa mai, nam thần (Rạch Đông) là những vật thiêng thường thấy trong các di tích đền tháp, mộ tháp có giếng thiêng thuộc văn hóa Óc Eo ở Nam bộ. Di vật bằng đá quý, thủy tinh có hạt chuỗi được làm bằng đá hồng mã não (Comaline), một hạt chuỗi khác được làm bằng thủy tinh hai màu đen và trắng được gọi là hạt chuỗi đa sắc (Poly Chrome). Loại hạt chuỗi này có nguồn gốc ngoại nhập từ các lò chế tạo hạt chuỗi đa sắc ở Ari Kamedu (nay là Pondi Chery) Đông  Nam Ấn Độ  truyền vào bán đảo Malaysia, Nam Thái Lan, duyên hải Nam bộ. Hạt thủy tinh màu cam, hạt thạch anh màu trắng. Những di vật bằng đá quý, thủy tinh có thể được dùng làm đồ trang sức nhưng với số lượng ít ỏi, lại được tìm thấy trong huyệt thờ. Có thể chúng là những vật thiêng được chôn trong kiến trúc. Xung quanh kiến trúc chính còn có những công trình phụ.
 
    Di tích Cầu Hang có niên đại vào khoảng thế kỷ X - XI sau Công nguyên. Trong di tích tìm thấy nhiều loại ngói ngửa, ngói úp, ngói có tấm diềm phía trước, ngói nóc có chóp nhọn. Đây là loại hình kiến trúc mái lợp lần đầu tiên biết đến trong vùng. Nơi đây có lẽ là một cơ sở nung ngói phục vụ cho các công trình kiến trúc trong vùng. Những loại ngói này được giới khoa học phương Tây gọi là gốm Khmer, có nguồn gốc từ thời Đường - Tống bên Trung Quốc. Những loại ngói ở đây có biểu hiện khác biệt với các loại ngói khác, như được sản xuất tại chỗ. Có thể nói chung được phỏng theo ngói Khmer thời Ăng co.
Loại hình di tích kiến trúc đền tháp dạng đền thờ đạo Hindu - Ấn Độ giáo ở Đồng Nai thời kỳ này khá đơn giản, vẫn còn mang đặc trưng văn hóa Óc Eo. Có thể gọi văn hóa hậu Óc Eo. Khi Chân Lạp thôn tính Phù Nam, đóng kinh đô ở vùng Tonle Sáp (Biển Hồ) khá xa, nên vùng đất Đồng Nai không ảnh hưởng văn hóa Chân Lạp mà tiếp tục phát triển kiểu thức kiến trúc Óc Eo.
 
    Đồ gốm được tìm thấy trong di tích và đoạn sông Đồng Nai từ Cù lao Rùa đến Bến Gỗ thường có xương mịn, kỹ thuật chế tác bằng bàn xoay, hoa văn trang trí đơn giản. Điển hình là kiểu ấm Kendy có vòi, hình dáng cân đối, miệng loe, cổ cao, thân tròn đều, đế thấp rất đẹp, được tìm thấy khá phổ biến trong các di tích Óc Eo ở đồng bằng sông Cửu Long và hình ảnh được khắc họa trên lá vàng trong di tích mộ táng Đá Nổi (An Giang). Ngoài ra có nhiều loại gốm mộc, gốm men, gốm sành còn khá nguyên vẹn thuộc nhiều giai đoạn văn hóa, nhưng đa phần thuộc giai đoạn văn hóa Ăng co muộn (thế kỷ XII - XIII) và Khmer - Thái (thế kỷ XIV - XV). Chúng gồm nhiều chủng loại mà điển hình là những chiếc bình con tiện, bình có vòi, âu thon cao, vò hình trứng, chum lớn, hoa văn trang trí đơn giản, phủ men nâu đen. Đồ gốm này có lẽ được nhập cảng khi vương quốc Ăng co và Thái Lan hưng thịnh vào thế kỷ XII - XV và mở rộng giao thương đến vùng Đông Nam Á. Đồ gốm được sử dụng rộng rãi trong nước và xuất cảng đến vùng bán đảo Thái Lan, Malaysia, Trowulan, kinh đô Majapakit (Indonesia) và đến hạ lưu sông Đồng Nai. Con sông Đồng Nai bấy giờ vẫn là đường giao thương giữa các vùng.
 
    Sau khi vương quốc Chân Lạp hình thành cùng với chu kỳ biển tiến, Chân Lạp không thể sử dụng kinh đô cũ của Phù Nam được, nên phải chuyển kinh đô về Tonle Sáp (Biển Hồ). Cư dân Đồng Nai bấy giờ chuyển lên sống ở những dòng đất cao ven sông, suối và chia cắt Chân Lạp bởi đồng bằng sông Cửu Long ngập trong biển nước. Cho nên Chân Lạp khó có thể đặt hệ thống quản lý trên vùng đất này. Hơn nữa, theo sử liệu Chân Lạp thì đến đầu thế kỷ VIII các tập đoàn phong kiến Chân Lạp mâu thuẫn, chia lãnh thổ thành hai miền cát cứ "nửa phía bắc vùng đồi núi và thung lũng gọi là Lục Chân Lạp, nửa phía nam có eo biển bao quanh và đầm lầy gọi là Thủy Chân Lạp". Lợi dụng sự chia rẽ Chân Lạp, Vương quốc Srivijaya ở Java dưới triều đại Sailendra bành trướng thế lực thôn tính Chân Lạp. Sau đó, một hoàng tử Chân Lạp có tên Jayavarman II thuộc dòng dõi vua Phù Nam cũ đang ở Java đem quân về thống nhất Thủy - Lục Chân Lạp đưa đất nước thoát khỏi sự lệ thuộc của Srivijaya, sáng lập vương triều Ăng co năm 802, kinh đô đóng ở vùng biển hồ Tonle Sáp và củng cố lực lượng mở mang bờ cỏi đến tận thung lũng Menam vào giữa thế kỷ XI sau Công nguyên. Cuộc chiến tranh triền miên kéo dài cả thế kỷ giữa hai Vương quốc Chân Lạp - Cham pa làm cho nội tại suy yếu. Giữa thế kỷ XIII quân Nguyên Mông xâm lược Đông Nam Á, tác động lớn các nước ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ trong vùng. Vương quốc Thái Lan hình thành và phát triển vào thế kỷ XIV - XV, luôn đem quân xâm lấn Chân Lạp, buộc kinh đô phải dời về Phnôm Pênh vào nửa đầu thế kỷ XV .
 
    Lịch sử nghiên cứu di tích khảo cổ học trên đất Đồng Nai cho biết loại hình kiến trúc đền tháp đạo Hindu thuộc văn hóa hậu Óc Eo có bình đồ kiến trúc hình vuông, cấu kiện đơn giản, ảnh hưởng truyền thống văn hóa Óc Eo. Còn văn hóa tiền Ăng co (Chân Lạp) với các di tích kiến trúc đền tháp kế thừa truyền thống Óc Eo, có bình đồ vuông, phát triển đa các (nhiều tầng) với nhiều cấu kiện phức tạp và kết hợp hồ nước. Ở Đồng Nai mãi đến thế kỷ X (di tích Gò Bường) mới thấy loại hình hồ nước nhưng bình đồ kiến trúc hình chữ nhật. Nó trở về với truyền thống Óc Eo đầu Công nguyên.
Như vậy, di tích kiến trúc đền tháp đạo Hindu - Ấn Độ giáo của cư dân Đồng Nai thời bấy giờ luôn phát triển trên cơ sở truyền thống văn hóa Óc Eo có kế thừa truyền thống văn hóa Ăng co để hình thành nền văn hóa bản địa, có thể gọi văn hóa hậu Óc Eo.
 
    Di vật tìm thấy trong vùng hầu hết là tượng thờ, vật thiêng của đạo Hindu - Ấn Độ giáo mà phổ biến thuộc hai giáo phái Vishnu và Shiva. Thế kỷ XII mới thấy xuất hiện tượng Phật Thích Ca, nhưng vẫn còn ảnh hưởng phong cách tạc tượng thần Hindu giáo.
 
    Vùng đồng bằng sông Cửu Long và cận biển đã phát triển mạnh hai tôn giáo: đạo Hindu và đạo Phật. Đạo Hindu với hai giáo phái Shiva và Vishnu, thờ thần khá đa dạng như thờ chung ba vị thần Vishnu, Shiva, Brahma hay Vishnu, Shiva, Hari - Hara, thờ thần Surya (thần mặt trời). Đặc biệt thờ thần Shiva dưới dạng Linga - Yoni, Mukha - Linga, Nandin. Đạo Phật với hai giáo phái Đại thừa và Tiểu thừa thờ tượng Phật Thích Ca và Quan Âm.
 
    Nghệ thuật tạc tượng tròn của hai giáo Vishnu và Shiva ở Đồng Nai khá đa dạng, trong đó hình tượng nghệ thuật Vishnu có phần phong phú hơn. Điển hình là pho tượng Vishnu vớt dưới lòng sông Đồng Nai được xem là sản phẩm nghệ thuật tôn giáo vào loại đẹp và hiếm trong sưu tập tượng tròn cổ ở đồng bằng Nam bộ. Tượng mang đậm dấu ấn của phong cách nghệ thuật Phnom Dà - Ăng co Borei (Ta Keo - Campuchia) nhưng đã giản lượt khung giá đỡ làm lộ rõ hình khối tượng tròn. Những di vật khác của một phần thân tượng Vishnu được chôn trong di tích cũng cho thấy sự khéo léo loại bỏ những phần phụ của tượng để tăng thêm thần thái dũng mãnh uy quyền.
 
    So sánh phong cách nghệ thuật, kỹ thuật tạc tượng với các pho tượng Vishnu được phát hiện ở đồng bằng sông Cửu Long và ở miền Đông Nam Campuchia ta có thể suy đoán: Lúc bấy giờ có hai trung tâm tạc tượng mang hai truyền thống khác nhau. Một trung tâm trên vùng đất Đông Nam Campuchia mang phong cách Phnom Dà có truyền thống tạc tượng cao lớn, mảnh mai, thân hình mềm mại, dáng đẹp, khung giá đỡ cầu kỳ. Một trung tâm ở miền duyên hải phía Đông châu thổ sông Cửu Long mang phong cách Phnom Dà nhưng có truyền thống tạc tượng nhỏ thấp, thân hình vạm vỡ, thần thái dũng mãnh, khung giá đỡ đơn giản, phong cách này khá phổ biến ở vùng Đồng Nai.
 
    Giáo phái Shiva cũng được tìm thấy nhiều loại tượng thờ. Những pho tượng Ganesa được tìm thấy ở vùng Biên Hòa đều được tạc theo tư thế ngồi xếp bằng kiểu Ấn Độ, vòi voi quấn quanh bụng. Còn tượng Ganesa ở châu thổ sông Cửu Long hầu như được tạc theo tư thế đứng phong cách có nét giống tượng Ganesa giai đoạn hậu Óc Eo; ngược lại tượng tạc theo tư thế ngồi xếp bằng được phổ biến trong nghệ thuật tạc tượng Champa.
  
    Có thể tượng Ganesa ở Đồng Nai được chế tác tại chỗ và kết hợp hai phong cách nghệ thuật hậu Óc Eo - Champa. Còn các tượng Yoni - Linga có biểu hiện khá hiện thực, mộc mạc thuộc dạng nguyên thủy mang truyền thống văn hóa Óc Eo.
Từ thế kỷ X về sau những tượng nam thần, tượng Ganesa bằng đồng và tượng Phật Thích Ca mang phong cách nghệ thuật Ba Phuon (Ăng co). Nhiều di vật khác mang truyền thống Óc Eo. Đặc biệt văn tự bia ký Gò Bường dùng chữ Sanskrít, không thấy chữ Khmer cổ. Các loại ngói được sản xuất tại chỗ mang truyền thống Khmer. Đồ gốm mang truyền thống Óc Eo và du nhập gốm Khmer - Thái.
     
    Nhìn chung văn hóa Óc Eo ở Đồng Nai được phát triển liên tục và hình thành văn hóa hậu Óc Eo kéo dài gần 10 thế kỷ. Sau đó được tiếp thu các nền văn hóa lân cận nhưng vẫn giữ văn hóa Óc Eo làm nền tảng và phát triển hình thành nền văn hóa bản địa mang sắc thái riêng.

 

Nguồn: Địa chí Đồng Nai, NXB Tổng hợp Đồng Nai, 2001​​

Một cửa điện tử

10/07/2016 Tỉnh đã giải quyết
96.1%
Hồ sơ đúng hạn

Tổng đài 1022

Đến ngày
10/07/2016
99,67%
Đã xử lý

atlas tỉnh đồng nai

Thư viện hình ảnh

Văn miếu Trấn Biên về đêm
Đá ba chồng Định Quán
Cầu Ghềnh
Văn miếu Trấn Biên
Khu Du lich Buu Long
UBND tỉnh Đồng Nai

Số lượt truy cập

cổng thông tin điện tử tỉnh đồng nai

Cơ quan chủ quản: Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai
Chịu trách nhiệm chính: Ông Nguyễn Minh Hùng – Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông
Địa chỉ: Khu Chung cư B1, đường Nguyễn Ái Quốc, phường Quang Vinh, Tp.Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
Điện thoại: (0251).3827555; Fax: (0251).3827569; Email: dona-ict@dongnai.gov.vn
Ghi rõ nguồn 'Cổng Thông tin điện tử Tỉnh Đồng Nai' hoặc 'www.dongnai.gov.vn' khi bạn phát hành lại thông tin từ Website này.