Thứ 2, Ngày 10/7/2016

Lịch sử Đồng Nai

Cập nhật 04/12/2012 09:55
Xem với cỡ chữ

Xã hội cổ Đồng Nai - Đời sống kinh tế và văn hóa thời kỳ tiền - sơ sử - Phần III

    Sự ảnh hưởng của văn minh Việt cổ Đông Sơn đến Đồng Nai có hiệu lực như tác nhân kích thích quan trọng trong quá trình phát triển lịch sử văn hóa, mà, qua hơn một thế kỷ kiếm tìm và suy ngẫm, chúng ta quan sát được ở Đồng Nai.

    Thế nhưng, những nhân tố gắn liền với sự phát triển nội tại, quy định đặc trưng văn hóa tiền sử - sơ sử Đồng Nai và hun đúc Bản lĩnh và Hào khí người cổ Đồng Nai đóng vai trò quyết định. Bởi thế, cho dù có chứa đựng một số yếu tố “ngoại nhập” (đồ trang sức bằng đá quý - mã não như agate, granat, cornaline, bằng thủy tinh nhân tạo đủ màu sắc, bằng bạc hay vàng, bông tai có 3 mấu giống trang sức “Lingling - O” của thổ dân Philippines và có hình 2 đầu thú bằng ngọc nephrite, thủ pháp tô màu trang điểm gốm giống Tây Phương Thiên Trúc, phong cách đúc đồng theo nguyên mẫu trống Đông Sơn hay mẫu qua Hoa Hạ, tư duy mai táng người thân đã khuất trong các quan tài chum gốm hay tôn vinh công đức các thủ lĩnh trong các công trình đá lớn dạng “Dolmen” của văn minh hải đảo...), quá trình phát triển của phức hệ Văn hóa tiền sử - sơ sử Đồng Nai như một hiện tượng lịch sử riêng biệt. Về cơ bản, phức hệ văn hóa thời kỳ này của Đồng Nai có những nét độc đáo và phân biệt về chất với mọi văn hóa cùng thời kim loại ở qui mô toàn khu vực. Những đặc trưng và thành quả điển hình nhất của phức hệ văn hóa này được thể hiện trong tất cả các sưu tập di vật từ đá, đồng, sắt đến xương, sừng, bạc, vàng hoặc gốm.

    Chính những đặc trưng và thành tựu ấy đã phản ánh chân xác tình trạng xã hội Đồng Nai xưa. Kinh tế - văn hóa và tín ngưỡng tôn giáo sơ khai của cư dân bản địa, biểu hiện những nét đặc thù của nghệ thuật tiền sử - sơ sử Đồng Nai được sản sinh trên cơ sở Cầu Sắt - Suối Linh và lớn lên nhờ tiềm năng sinh thái nhiệt đới bán sơn địa - cửa sông - cận biển. Nhờ kinh nghiệm sống hòa nhập và biến đổi thiên nhiên, giao lưu, tiếp thu và không ngừng sáng tạo những thành tựu tri thức nhân loại ưu việt và hữu ích đương thời; lớp cư dân cổ qua nhiều thế hệ, đã xây đắp một xã hội Đồng Nai phát triển. 

    Trong hoàn cảnh lịch sử đặc thù ấy, sự diễn biến văn hóa nguyên thủy vào văn minh sơ khởi trên qui mô lưu vực là phản ánh sinh động và sôi nổi cuộc sống giao thời sơ sử - cổ sử Đồng Nai trong diễn trình hội nhập với văn minh Óc Eo. Sự diễn biến văn hóa buổi đầu của thời này mang diện mạo và khuynh hướng với cơ chế hội nhập trong các điều kiện - phương thức và tiến độ giao lưu mới nhanh mạnh và thực dụng hơn. Qua đó, xã hội cổ sử ở Nam bộ vào các thế kỷ đầu Công nguyên được chứng kiến những biến cố lịch sử chưa từng có trong tiền sử về ý nghĩa ngoài cộng đồng và công cuộc xây đắp làm giàu bản sắc truyền thống, tiến bộ hơn trong bối cảnh Nam Đông Dương đương thời. Đó là điều có thể hiểu và hình dung được từ tri thức khảo cổ học hiện trạng những trung tâm quần tụ - kết tinh sau tiền sử của một cấu trúc kinh tế - văn hóa - nghệ thuật - thương mại - chính trị - tôn giáo đa và liên cộng đồng thời sơ sử và cổ sử. Một tổ chức xã hội cao hơn, có tầm vóc lịch sử lớn hơn và có sức mạnh hơn, đặc trưng bằng sự manh nha nhà nước thuộc loại sớm của khu vực, cùng những kiểu đô thị thích hợp môi sinh và mang đặc thù ở bước đi ban đầu sau Công nguyên. Sự phát triển xã hội theo kiểu thức này đáp ứng hữu hiệu quá trình bành trướng ảnh hưởng của Văn minh sông Hằng (mà nhiều học giả Phương Tây và Bắc Mỹ gọi là “Ấn Độ hóa” (Hindouisé; Indianisé; Indianization) với các làn sóng văn hóa Bà la môn và Phật giáo từ Tây phương Thiên Trúc), và nhiều nơi khác nữa; đến vùng đất Nam bộ Việt Nam nói riêng và địa vực Nam Đông Dương nói chung. Nhờ giải mã thấu đáo các quy trình giao lưu tương hỗ và hội nhập văn hóa của lịch sử, có thể hình dung những đặc trưng của bức tranh tổng quát về quá khứ cổ sử miền cao nguyên và đồng bằng ven biển Đông ở tận cùng phương Nam của Tổ quốc ta hiện nay, trong khoảng 7 thế kỷ - tính từ lúc người Đồng Nai thực sự đã bước hẳn ra ngoài thời nguyên thủy.
    Có thể nói, từ những đỉnh cao của cuộc sống tiền sử - sơ sử Đồng Nai với các làng cổ trên đồi cao, cù lao (Suối Chồn, Bình Đa, Cái Vạn...), đến những “cánh đồng chum” Xuân Lộc, mộ cự thạch Hàng Gòn và kho tàng vũ khí cổ Long Giao..., cuộc sống cổ sử lại bắt đầu ở chính mảnh đất “Biên Hùng” này...
 

  Bảng 3: PHÂN TÍCH THÀNH PHẦN HÓA HỌC GỐM CỔ ĐỒNG NAI BẰNG PHƯƠNG PHÁP QUANG PHỔ

 
 
DI CHNGUYÊN T
CẦU ST
HÀNG GÒN 1
CÁI VẠN
HÀNG GÒN 9
M1
M2
M3
Al
> 3
> 3
> 3
> 3
> 3
> 3
Si
10
10
10
10
10
10
Mg
0,3
0,5
1
0,3
0,3
0,2
Ca
0,3
1
1
0,2
2
1
Sr
0,01
0,02
0,01
 
0,02
0,01
Ba
0,02
0,03
0,03
< 0,01
0,01
0,01
Fe
3
3
3
2
2
3
V
0,002
0,002
0,003
0,003
0,003
0,002
Mn
0,03
0,005
0,03
0,01
0,01
0,01
Ti
0,2
0,3
0,3
1
0,3
0,3
Co
0,001
 
 
 
0,001
0,001
Ni
0,003
0,001
0,001
0,003
0,001
0,003
Cr
0,005
0,003
0,01
0,02
0,002
0,005
Mo
 
 
0,002
0,001
 
0,001
Sn
 
0,001
0,001
0,001
0,002
0,001
Cu
0,005
0,005
0,003
0,005
0,005
0,003
Pb
 
 
<0,001
 
<0,001
0,002
Ga
0,003
0,001
0,003
0,003
0,003
0,003
Be
0,0003
0,0003
0,0003
 
0,0003
0,0003
Na
 
0,1
 
 
0,1
0,1
Zn
 
0,01
0,01
 
0,01
 
P
0,3
0,3
0,3
0,3
0,3
0,3
Zz
0,001
0,002
0,002
0,002
0,001
0,002
 

 

THƯ MỤC: Diệp Đình Hoa 1977, tr.86 - 88; 1978, tr.31 - 42.
GHI CHÚ: Cầu Sắt: M1: gốm xương đen, pha cát, áo đỏ, nung cao, làm từ bàn xoay; M2: gốm xương đỏ, mộc, khá bở; M3: gốm xốp, đen, nhiều bã thực vật. Hàng Gòn 1: gốm đỏ, xương đen, mịn, áo dày, miệng hơi loe. Cái Vạn: gốm xương đỏ + đen; áo mốc trắng vàng, nhiều vôi, ít kẽm. Hàng Gòn 9: gốm thô pha nhiều cát, xương đen, áo đỏ dày.
 
Bảng 4: PHÂN TÍCH THÀNH PHẦN HÓA HỌC GỐM CỔ ĐỒNG NAI BẰNG PHƯƠNG PHÁP RƠN - GHEN
 
 
STT
CẦU ST
HÀNG GÒN 1
HÀNG GÒN 2
M1
M2
M3
j
d
j
d
j
d
j
d
j
d
3
 
 
 
 
 
 
 
 
2
8
6
 
 
 
 
1
5,75
 
 
1
5,34
 
 
 
 
 
1
5,57
 
 
 
 
7
 
 
 
 
<1
4,94
 
 
 
 
9
3
4,24
5
4,25
2
4,25
4
4,24
3
4,24
11
2
3,77
2
3,77
 
 
 
 
 
 
13
 
 
2
3,52
 
 
 
 
 
 
15
10
3,33
10
3,33
10
3,33
10
3,33
10
3,33
16
3
3,24
8
3,23
 
 
4
4,24
3
3,24
17
 
 
 
 
 
 
2
3,18
4
3,19
19
 
 
 
 
 
 
 
 
<1
2,98
20
 
 
1
2,99
 
 
 
 
 
 
22
 
 
1
2,57
 
 
<1
2,51
 
 
23
1
2,45
1
2,53
1
2,46
1
2,45
2
2,45
1
2,28
 
 
<1
2,28
<1
2,27
 
 
24
<1
2,28
1
2,46
 
 
<1
2,13
2
2,28
 
 
 
 
<1
2,13
 
 
<1
2,13
25
3
1,82
 
 
<1
2
<1
1,82
5
1,82
 
 
1
2,24
 
 
 
 
 
 
26
<1
1,66
1
2,13
1
1,82
 
 
1
1,7
27
1
1,54
 
 
 
 
<1
1,54
1
1,54
28
<1
1,51
 
 
 
 
1
1,38
 
 
 
 
THƯ MỤC: Diệp Đình Hoa - Trịnh Lệ Thư, 1980, tr.106 - 108; 1981, tr.124 - 125.
GHI C: Cu St: M1: gm m bng bàn xoay, thô b, ơng đỏ, ngoài đ, pha vôi, không áo, văn thng; M2: gốm xương đen, pha cát, áo dày, u đỏ, văn thng t; M3: gm xp, hơi đen, pha nhiều bã thc vt. ng Gòn 1: gm làm bằng bàn xoay, mịn, pha cát t, áo đ dày, xương đen, có ming đng, vành ming loe. ng Gòn 9: gốm thô, xương đen, áo đỏ, có pha cát thô.
 
Nguồn: Địa chí Đồng Nai, NXB Tổng hợp Đồng Nai, 2001​

Một cửa điện tử

10/07/2016 Tỉnh đã giải quyết
96%
Hồ sơ đúng hạn

Tổng đài 1022

Đến ngày
10/07/2016
99,70%
Đã xử lý

atlas tỉnh đồng nai

Thư viện hình ảnh

Văn miếu Trấn Biên về đêm
Đá ba chồng Định Quán
Cầu Ghềnh
Văn miếu Trấn Biên
Khu Du lich Buu Long
UBND tỉnh Đồng Nai

Số lượt truy cập

cổng thông tin điện tử tỉnh đồng nai

Cơ quan chủ quản: Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai
Chịu trách nhiệm chính: Ông Nguyễn Minh Hùng – Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông
Địa chỉ: Khu Chung cư B1, đường Nguyễn Ái Quốc, phường Quang Vinh, Tp.Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
Điện thoại: (0251).3827555; Fax: (0251).3827569; Email: dona-ict@dongnai.gov.vn
Ghi rõ nguồn 'Cổng Thông tin điện tử Tỉnh Đồng Nai' hoặc 'www.dongnai.gov.vn' khi bạn phát hành lại thông tin từ Website này.