Thứ 2, Ngày 10/7/2016

Địa lý Đồng Nai

Cập nhật 14/12/2012 11:29
Xem với cỡ chữ

Núi lửa, rừng và địa danh "Đồng Nai"

1. Núi lửa:

Hoạt động của núi lửa trên địa bàn tỉnh Đồng Nai xảy ra trong kỷ Neogen- Đệ Tứ, tạo lớp phủ rộng gần 1/3 diện tích của tỉnh. Tuy đã bị chia cắt, phá huỷ ít nhiều nhưng vẫn có thể nhận rõ 3 dạng địa hình độc đáo do chúng tạo ra là cao nguyên núi lửa, đồng bằng núi lửa và nón núi lửa.
Cao nguyên núi lửa phân bố ở Nam Cát Tiên, cao 200 -> 300m, diện tích 230km2. Chúng được tạo thành do phun trào bazan với những lớp dày 28 -> 100m, trung bình 50 -> 60m.

Các đồng bằng núi lửa phân bố rộng rãi ở Túc Trưng, Xuân Lộc, Cẩm Liêm, Tà Lài, Định Quán, Gia Ray. Chúng được tạo thành do phun trào các dung nham thành phần bazơ có độ nhớt thấp phủ rộng trên các bề mặt san bằng có trước.Các nón núi lửa được tạo thành trong điều kiện dung nham có độ nhớt cao hoặc trong các đợt phun nổ. Các nón núi lửa tập trung thành các cụm ở Cẩm Tiên (43 nón), Gia Kiệm- Xuân Lộc (23 nón), Phú Hoà (6 nón), Định Quán (3 nón). Các nón núi lửa độc lập được thấy ở đông bắc núi Giang Cu (Định Quán), núi Tràn, núi Đất, núi Quy (Túc Trưng), Võ Dõng, Sóc Lu, nam và bắc núi Chứa Chan, núi Be Bác… Núi lửa lớn nhất ở Sóc Lu có dạng nón, đường kính 5,5km, chân núi cao 100m, đỉnh núi cao 418m, sườn có dạng lõm, phần dưới thoải, phần trên dốc.

2. Rừng:

Cảnh quan Đồng Nai rất phong phú với nhiều kiểu thực bì gồm nhiều loài thực vật nhiệt đới điển hình của cây trồng lẫn cây hoang dại. Rừng Đồng Nai được xếp trong hệ sinh thái rừng ẩm nhiệt đới gió mùa. Đến nay, đất rừng chỉ còn chiếm khoảng 29,2%. Diện tích rừng nguyên sinh còn không nhiều, nằm rải rác ở Vĩnh An, Tân Phú, Định Quán… Lớp thực vật chủ yếu có các loại cây thuộc họ dầu, họ bàng, họ tử vi, họ thung, họ đậu như: bằng lăng, tếch, săng lẻ, trắc, cẩm lai, gõ, căm xe… Dọc theo thung lũng sông có rừng tre, nứa, song mây. Diện tích rừng trồng khá nhiều và phát triển từ rất sớm so với các tỉnh khác, hầu như nơi nào cũng có gồm: rừng công nghiệp cao su, rừng cây nguyên liệu giấy có tràm, bạch đàn; rừng cây nước mặn có đước, mắm…
Hệ thực vật Đồng Nai tiêu biểu là rừng Nam Cát Tiên có khoảng 1850 loài với 151 họ của 73 bộ trong 5 ngành thực vật bậc cao. Số loài thực vật đã biết bằng 8,8% tổng số loài cả Việt Nam, 11,8% miền Nam, 17,8% Tây Nguyên, bằng 37% của hệ thực vật rừng Cúc Phương (Ninh Bình) và 68% của đảo Phú Quốc (Kiên Giang).
Hệ thực vật có 13 họ nhiều loài (chiếm 10,1%), mỗi họ có khoảng 76 loài và tổng số loài của 13 họ này là 317 bằng 51,2% số loài ở Nam Cát Tiên. Cụ thể gồm có: họ lan (76 loài), họ đậu (49 loài), họ thầu dầu (38 loài), họ cà phê (34 loài), họ dâu tằm (18 loài), họ ráy (15 loài), họ trôm (14 loài), họ dầu (14 loài), họ lúa (14 loài), họ cỏ roi ngựa (12 loài), họ thiên lý (12 loài), họ cói (10 loài), họ long não (12 loài).
Hệ thực vật Đồng Nai có 26 loài thực vật quý hiếm và đang có nguy cơ bị tiêu diệt. Ngoài yếu tố có nguồn gốc tại chỗ (bản địa), tiêu biểu cho hệ thực vật Nam Bộ, hệ thực vật Đồng Nai chủ yếu là nhóm các yếu tố di cư tiêu biểu cho hệ thực vật rừng ẩm nhiệt đới, hiện diện một số họ trong các họ thực vật đặc trưng cho hệ thực vật cổ nhiệt đới.
Các nhà nghiên cứu đã thống kê được các nhóm đặc sản:
- Nhóm cây lấy gỗ: khoảng 120 loài (19,3% số loài), gồm: dầu rái, gõ đỏ, căm xe, sao đen, chai, chên vên, cẩm lai, bằng lăng…
- Nhóm cây cho các lâm sản khác: 40 loài, gồm: tre, lá, song mây…
- Nhóm cây làm thuốc: khoảng 240 loài (38,7% số loài), gồm: sa nhân, mã tiền, hà thủ ô, vàng đắng, cốt toái bổ, thiên niên kiện…
- Nhóm cây cảnh: 40 loài (6,4% số loài).
- Nhóm cây phong lan: 71 loài (11,1% số loài), gồm: quế lan hương, kiều đan thanh, ngọc điểm, hoàng thảo tím…
- Nhóm cây cho dầu nhựa: 15 loài (2,4%), đáng chú ý là các loài thuộc họ dầu cho dầu rái và chai cục.
- Nhóm cây dầu béo: 29 loài (4,7%), gồm: trôm, chùm bao, cầy…
- Nhóm cây chứa tanin: 79 loài (13%).
- Nhóm cây cho thực phẩm: 21 loài (3,4%).
- Các cây cho quả: dâu da xoan, trám đen, sấu, ươi, sổ, bứa, mít nài, thanh trà, xoài rừng…
- Các cây cho thực phẩm khác: củ mài, trái gùi, bột cây buông và các loài rau rừng, măng tre, nấm hương, mộc nhĩ…
- Tài nguyên về tảo: rất đa dạng và phong phú, có 438 loài thuộc khu hệ tảo Nam Cát Tiên.

3. Địa danh "Đồng Nai"

Địa danh Đồng Nai xuất hiện bằng chữ quốc ngữ lần đầu tiên trong một báo cáo của giáo hội Thiên Chúa về tình hình giáo dân ở Nam Bộ (viết tháng 10-1710): “Khoảng năm 1670 đã có dân Cochinchine đến sinh cơ lập nghiệp ở một phần đất nào đó mà người ta gọi là Doũnay giáp ranh với các vương quốc Khmer và Chămpa”. Trong các tài liệu bằng chữ quốc ngữ vào thế kỷ XVII và đầu thế kỷ XVIII, vần ông còn ghi là ou hoặc oũ. Trong tài liệu tiếng Pháp, dùng “D” thay “Đ”)
Năm 1747, Launay cũng ghi nhận địa danh Đồng Nai với tự dạng là Doũ-nai. Sau đó, địa danh Đồng Nai xuất hiện vừa bằng chữ Nôm, vừa bằng chữ quốc ngữ vào năm 1772 trong Từ điển An Nam- La Tinh của Pigneau de Béhaine. Sách Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn (1776) có đề cập đến địa danh Đồng Nai. Trịnh Hoài Đức cũng đã nhắc đến địa danh Đồng Nai trong Gia Định thành thông chí (1820): “xứ Đồng Nai”.
Về ngữ nghĩa, các tác giả đều hiểu địa danh Đồng Nai là “ cánh đồng có những con nai”. Génibrel trong Từ điển Việt- Pháp (1898) ghi rõ: “La plaine aux cerfs” (Cánh đồng nai). Sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn viết: “Chợ Lộc Dã ở phía Nam hạ lưu Phước Long (sông Đồng Nai) huyện Phước Chánh, nguyên xưa là cánh đồng hươu nai ở, nên đặt tên ấy, hoặc gọi Lộc Động, tục danh chợ Đồng Nai, vì khi đầu khai thác từ chỗ Đồng Nai trước hết, nên cứ chỗ gốc cũng gồm đủ mấy ngọn”. Khi dịch địa danh này sang chữ Hán, các nhà Nho đã dùng hai chữ Lộc Dã (Lộc: con nai; Dã: cánh đồng). 
Một số nhà nghiên cứu khác thay vì dùng Lộc Dã, lại dùng Lộc Động. Lộc Động là “hang nai”, rõ ràng là không phù hợp với thực tế, vì nai không ở trong hang. Đây là một từ ghép vừa để dịch nghĩa vừa phiên âm. Lộc để dịch Nai, Động để phiên âm Đồng.
Ngoài hai trường hợp dịch nghĩa và dịch nghĩa – phiên âm, còn một trường hợp phiên âm thuần tuý: Nông Nại. Đồng được phiên âm thành Nông là có thể chấp nhận được vì hai phụ âm đầu “đ” và “n” có thể chuyển đổi cho nhau. Còn Nai, trong tiếng Hán- Việt không có, nên phải dùng Nại là tiếng để phiên.
Các tên gọi Lộc Dã, Lộc Động, Nông Nại không phải là địa danh thực thụ mà chỉ là tên dịch, tên phiên âm hoặc tên vừa dịch vừa phiên âm của địa danh Đồng Nai. Vì vậy, nên những tên gọi đó không được các từ điển chữ quốc ngữ ghi lại như Đồng Nai.
Mặt khác, cấu trúc “từ chỉ địa hình + tên thú” rất phổ biến ở Việt Nam, đặc biệt là ở Nam Bộ như: rạch Bến Trâu, Gò Công, Hố Bò, cầu Rạch Đỉa, ấp Bàu Trăn… còn yếu tố nai hay hươu xuất hiện cũng khá nhiều: Hố Nai, Đồng Hươu (Biên Hoà), rạch Nai, ấp Bàu Nai, sông Mũi Nai, Hóc Hươu (thành phố Hồ Chí Minh).

Một cửa điện tử

10/07/2016 Tỉnh đã giải quyết
95.2%
Hồ sơ đúng hạn

Văn bản qua mạng

Đến ngày 10/07/2016 Tỉnh đã trao đổi
869.368
Văn bản qua mạng

Tổng đài 1022

Đến ngày
10/07/2016
99,52%
Đã xử lý

atlas tỉnh đồng nai

Thư viện hình ảnh

Văn miếu Trấn Biên về đêm
Đá ba chồng Định Quán
Cầu Ghềnh
Văn miếu Trấn Biên
Khu Du lich Buu Long
UBND tỉnh Đồng Nai

Số lượt truy cập

cổng thông tin điện tử tỉnh đồng nai

Cơ quan chủ quản: Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai
Chịu trách nhiệm chính: Ông Lê Hoàng Ngọc - Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông
Địa chỉ: Khu Chung cư B1, đường Nguyễn Ái Quốc, phường Quang Vinh, Tp.Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
Điện thoại: (0251).3827555; Fax: (0251).3827569; Email: dona-ict@dongnai.gov.vn
Ghi rõ nguồn 'Cổng Thông tin điện tử Tỉnh Đồng Nai' hoặc 'www.dongnai.gov.vn' khi bạn phát hành lại thông tin từ Website này.