Trang chủ     Liên hệ     Sơ đồ trang web     English    中文    한국어    日本語
ĐỒNG NAI CHÍNH QUYỀN CÔNG DÂN DOANH NGHIỆP DU KHÁCH  
ĐỒNG NAI


Từ điển
Chọn từ điển
 
Tình hình KT-XH, AN-QP  
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh năm 2008; phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp thực hiện kế hoạch 2009.

Phần thứ nhất

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN

KINH TẾ - XÃ HỘI, QUỐC PHÒNG - AN NINH NĂM 2008

 

I. Tình hình kinh tế thế giới và trong nước:

Bước vào thực hiện kế hoạch năm 2008 trong tình hình kinh tế thế giới và trong nước có nhiều biến động phức tạp, giá dầu thô và nhiều loại vật tư, lương thực trên thị trường thế giới đột biến tăng cao. Cùng với sự suy thoái trì trệ trong phát triển, giá cả tăng cao và lạm phát toàn cầu là đặc điểm nổi bật đã ảnh hưởng gây xáo trộn lớn trong đời sống kinh tế, xã hội các nước;

Ở trong nước, tình trạng lạm phát, giá nhiều loại vật tư chủ yếu cho sản xuất tăng cao; chỉ số giá tiêu dùng tăng cao đã ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống nhân dân.  

Mặc dù có những ảnh hưởng bất lợi nói trên, song với sự phấn đấu tích cực của các cấp, các ngành, các doanh nghiệp và nhân dân địa phương nền kinh tế của tỉnh tiếp tục tăng trưởng đảm bảo mục tiêu đề ra.

II. Kết quả thực hiện các mục tiêu Nghị quyết của Tỉnh ủy và Hội đồng Nhân dân tỉnh năm 2008:

Thực hiện Nghị quyết 08-NQ/TU ngày 10/01/2008 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh (khóa VIII) và Nghị quyết số 94/2007/NQ-HĐND ngày 07/12/2007 của Hội Đồng Nhân Dân tỉnh về mục tiêu, giải pháp thực hiện nhiệm vụ kinh tế-xã hội, quốc phòng-an ninh năm 2008 và Quyết định số 4.381/QĐ-UBND ngày 12/12/2007 của UBND tỉnh Đồng Nai về việc giao chỉ tiêu kế hoạch kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2008. Tình hình kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh năm 2008 có những thuận lợi song cũng gặp không ít khó khăn, thách thức ảnh hưởng đến sản xuất như: tình trạng đình công của một số doanh nghiệp; lạm phát, giá cả nguyên liệu, nhiên liệu và vật tư tăng cao. Song với sự phấn đấu tích cực của các cấp, các ngành, doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh làm cho kinh tế của tỉnh tiếp tục phát triển:

1. Các chỉ tiêu về kinh tế:

Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) năm 2008 ước tăng 15,5% so với năm 2007, đạt mục tiêu Nghị quyết Tỉnh ủy và HĐND tỉnh đề ra (mục tiêu Nghị quyết năm 2008 tăng 15,5%). Trong đó: Ngành công nghiệp-xây dựng tăng 16,8%; ngành dịch vụ tăng 17,3%; ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 5,6%. Quy mô GDP theo giá thực tế là 53.855 tỷ đồng, tương đương 3,26 tỷ USD. GDP bình quân đầu người theo giá so sánh là 11,762 triệu đồng, tương đương 1.069 USD (1 USD = 11.000 VND), tăng 12%  so với năm 2007. GDP bình quân đầu người theo giá thực tế là 21,716 triệu đồng, tương đương 1.316 USD, tăng 19,1% so với năm 2007, đạt cao hơn so với mục tiêu Nghị quyết.

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực: công nghiệp- xây dựng chiếm 57,9%; dịch vụ chiếm 31,5%; nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 10,6% (phù hợp với mục tiêu Nghị quyết).

- Ước thực hiện giá trị sản xuất công nghiệp (giá cố định 1994) là 76.320 tỷ đồng, đạt 97,7% kế hoạch; tăng 21,3% so với năm 2007, đạt thấp hơn so với mục tiêu Nghị quyết.

- Ước thực hiện giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản (giá cố định 1994) là 7.083,9 tỷ đồng, đạt 101,1% kế hoạch; tăng 6% so cùng kỳ, cao hơn so với mục tiêu Nghị quyết.

- Giá trị tăng thêm của các ngành dịch vụ tăng là 17,3%, đạt mục tiêu Nghị quyết.

- Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ là 36.545 tỷ đồng, đạt 108,1% kế hoạch, tăng 35,1% so cùng kỳ; Doanh thu bưu chính viễn thông là 1.785 tỷ đồng, đạt 102% kế hoạch, tăng 17,7% so cùng kỳ; Mật độ điện thoại đạt 66,9 thuê bao/100 dân; Mật độ internet đạt 14,2 thuê bao/100 dân.

- Ước thực hiện tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội khoảng 26.735 tỷ đồng, chiếm 49,6% GDP; đạt thấp hơn so với mục tiêu nghị quyết (mục tiêu Nghị quyết vốn đầu tư phát triển là 27.000 tỷ đồng). Trong đó vốn trong nước chiếm 46,1%, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 53,9% tổng vốn đầu tư.

- Ước thực hiện thu hút nguồn vốn FDI đạt 3 tỷ USD (bao gồm đăng ký mới và dự án tăng vốn), cao hơn mục tiêu Nghị quyết (mục tiêu Nghị quyết thu hút 1,5 tỷ USD).

- Ước thực hiện thu hút vốn đầu tư trong nước thông qua cấp giấy chứng nhận đầu tư 21.700 tỷ đồng (bao gồm vốn đăng ký cấp mới và dự án tăng vốn), cao hơn mục tiêu Nghị quyết. Doanh nghiệp trong nước đăng ký kinh doanh là 18.000 tỷ đồng (bao gồm đăng ký mới và đăng ký tăng vốn), đạt 100% kế hoạch.

- Ước thực hiện tổng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn là 6,849 tỷ USD, đạt 97,7% kế hoạch; tăng 25,1% so cùng kỳ, đạt thấp hơn so mục tiêu Nghị quyết (mục tiêu nghị quyết tăng 28%). Kim ngạch nhập khẩu trên địa bàn là 8,146 tỷ USD, đạt 99,3% kế hoạch, tăng 28,7% so cùng kỳ.

- Ước thực hiện tổng thu ngân sách trên địa bàn là 11.536,5 tỷ đồng (bao gồm cả thu từ nguồn xổ số kiến thiết là 324 tỷ đồng), đạt 107% dự toán, tăng 16,5% so cùng kỳ. Ước thực hiện tổng chi ngân sách địa phương dự kiến là 4.161,1 tỷ đồng (trong đó kể cả chi từ nguồn xổ số kiến thiết là 260 tỷ đồng), đạt 99,2% dự toán, bằng 90,1% so cùng kỳ.

2. Chỉ tiêu xã hội:

- Giảm tỷ suất sinh thô 0,3%o; giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên xuống còn 1,16%, đạt mục tiêu Nghị quyết.

- Phấn đấu có 71,9% xã, phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập bậc Trung học, đạt cao hơn so mục tiêu Nghị quyết.

- Phấn đấu 61% trạm y tế có bác sỹ phục vụ ổn định, đạt mục tiêu Nghị quyết; 85% xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế, đạt mục tiêu Nghị quyết; 3,6 bác sỹ/1 vạn dân, đạt mục tiêu Nghị quyết. Tỷ lệ giường bệnh trên 1 vạn dân đạt 15 giường bệnh, đạt 100% kế hoạch. Giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng còn 15,5%, đạt mục tiêu Nghị quyết; trẻ em dưới 2 tuổi còn 9,5%, đạt mục tiêu Nghị quyết. Tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi được tiêm chủng đầy đủ vaccin đạt 98%, đạt mục tiêu Nghị quyết.

- Tạo việc làm mới cho 85 ngàn lao động, đạt mục tiêu Nghị quyết; trong đó lao động tại chỗ 70 ngàn lao động, lao động ngoài tỉnh 15 ngàn lao động; hạ tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị từ 2,85% cuối năm 2007 xuống còn 2,75% cuối năm 2008; nâng tỷ lệ thời gian sử dụng lao động ở nông thôn từ 86% cuối năm 2007 lên 87% cuối năm 2008.

Tuyển mới và đào tạo nghề cho 55.300 người, đạt mục tiêu Nghị quyết; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 49,5%, cao hơn mục tiêu Nghị quyết; tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 37,5%, đạt mục tiêu Nghị quyết.

- Hạ tỷ lệ hộ nghèo từ 6,15% cuối năm 2007 xuống còn 4,14% cuối năm 2008, đạt cao hơn mục tiêu Nghị quyết.

- Toàn tỉnh đạt 85% ấp, khu phố và 93% hộ gia đình đạt danh hiệu ấp, khu phố văn hóa, hộ gia đình văn hóa; đạt mục tiêu Nghị quyết, trên 96% cơ quan đơn vị có đời sống văn hoá tốt.

- Tỷ lệ hộ dùng điện đạt 98%, đạt mục tiêu Nghị quyết.

- Mật độ điện thoại đạt 66,9 thuê bao/100 dân, cao hơn mục tiêu Nghị quyết.

3. Chỉ tiêu môi trường:

- Tỷ lệ hộ dùng nước sạch: Khu vực đô thị đạt 96%, khu vực nông thôn đạt 82%, đạt mục tiêu Nghị quyết.

- Tỷ lệ che phủ rừng đạt 27,5%, đạt mục tiêu Nghị quyết.

- Thu gom và xử lý chất thải y tế đạt 85%, thu gom xử lý chất thải nguy hại đạt 40%, Thu gom xử lý rác thải sinh hoạt đạt 75%; đạt mục tiêu Nghị quyết.

III. Đánh giá tình hình thực hiện các ngành, lĩnh vực:

1. Sản xuất công nghiệp:

- Giá trị sản xuất công nghiệp dự kiến là 76.320 tỷ đồng (giá cố định 1994), đạt 97,7% kế hoạch, tăng 21,3% so với thực hiện năm 2007. Trong đó: Quốc doanh Trung ương là 8.614 tỷ đồng, đạt 96,3% kế hoạch, tăng 11,3%; quốc doanh địa phương là 2.964 tỷ đồng, đạt 87,9% kế hoạch, tăng 2,5%; khu vực ngoài quốc doanh là 9.849 tỷ đồng, đạt 105% kế hoạch, tăng 22,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là 54.893 tỷ đồng, đạt 98% kế hoạch, tăng 24% so cùng kỳ.

- Nguyên nhân Giá trị sản xuất công nghiệp đạt thấp so kế hoạch và mục tiêu Nghị quyết (mục tiêu Nghị quyết tăng 23% so với năm 2007): lạm phát, giá cả, lãi suất ngân hàng tăng cao; nền kinh tế của Mỹ bị suy giảm, dollar Mỹ biến động ảnh hưởng lớn đến sản xuất kinh doanh và xuất khẩu của các doanh nghiệp, gây khó khăn đối với một số ngành sản xuất công nghiệp. Ngoài ra nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và tiến trình hội nhập kinh tế thế giới và khu vực. Một số ngành công nghiệp đạt thấp so với kế hoạch và tăng trưởng thấp so với bình quân chung của toàn ngành: Công nghiệp dệt, may, giày dép; Công nghiệp điện-điện tử; Công nghiệp sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy; Công nghiệp điện nước.

- Tình hình phát triển của 9 nhóm ngành công nghiệp chủ lực như sau:

+ Công nghiệp khai khoáng và VLXD tăng 16,7% so cùng kỳ.

+ Công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm tăng 27% so cùng kỳ.

+ Công nghiệp dệt, may, giày dép tăng 18,3% so cùng kỳ.

+ Công nghiệp chế biến gỗ, tre tăng 22,5% so cùng kỳ.

+ Công nghiệp sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 19% so cùng kỳ.

+ Công nghiệp hóa chất và cao su tăng 24,1% so cùng kỳ.

+ Công nghiệp cơ khí tăng 22,3% so cùng kỳ.

+ Công nghiệp điện, điện tử tăng 16,8% so cùng kỳ.

+ Công nghiệp điện nước tăng 4% so cùng kỳ.

- Công tác khuyến công:

+ Xây dựng đề án khôi phục và phát triển nghề sản xuất, chế biến nấm các loại trên địa bàn thị xã Long Khánh đến năm 2012; đề án khôi phục và phát triển nghề gỗ mỹ nghệ trên địa bàn huyện Trảng Bom giai đoạn 2008-2013; đề án phát triển nghề mây tre đan trên địa bàn huyện Định Quán giai đoạn 2008-2013; khôi phục và phát triển nghề chế tác đá ở TP. Biên Hoà.

+ Tổ chức hội nghị triển khai công tác tái định cư thí điểm tại xã Tam An huyện Long Thành và xã Phước Khánh huyện Nhơn Trạch với 217 hộ tham gia. Kết quả: xã Tam An đề nghị hỗ trợ 2 mô hình trồng nấm; xã Phước Khánh trước mắt mở lớp khởi sự doanh nghiệp.

+ Phối hợp với Tp. Biên Hòa đào tạo nghề mây tre đan cho các hộ gia đình trong việc chuyển đổi từ ngành nghề chăn nuôi sang ngành nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống.

2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản:

- Thời tiết gieo trồng 3 vụ Đông Xuân, Hè Thu và vụ Mùa năm nay tương đối thuận lợi, giúp cho cây trồng phát triển; chăn nuôi không xảy ra dịch bệnh, tổng đàn heo và gia cầm tăng; các địa phương tận dụng mặt nước khuyến khích ngư dân nuôi trồng thuỷ sản. Tuy nhiên sản xuất nông nghiệp đã gặp phải những khó khăn như giá nhiên liệu, phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn chăn nuôi tăng cao ảnh hưởng đến chi phí đầu vào, hiệu quả sản xuất và thu nhập, đời sống dân cư. Bệnh rầy nâu, vàng lùn-lùn xoắn lá xuất hiện trên cây lúa đã ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây trồng; bệnh lở mồm long móng, bệnh cúm gia cầm tuy đã được khống chế nhưng vẫn tiềm ẩn nguy cơ tái phát, ảnh hưởng đến việc đầu tư phát triển sản xuất.

- Từ những thuận lợi và khó khăn trên, ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn đã tập trung hướng dẫn nông dân chuyển đổi cây trồng, vật nuôi phù hợp điều kiện tự nhiên từng vùng, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ cao vào sản xuất như: xử lý ra hoa, bón phân qua đuờng ống, tưới tiết kiệm nước đối với cây lâu năm, cây ăn trái, tổ chức phòng trừ sâu hại cây trồng, hướng dẫn người chăn nuôi chủ động phòng bệnh long móng lở mồm gia súc, ngăn chặn bệnh tai xanh ở heo và cúm gia cầm... triển khai thực hiện tốt công tác quản lý bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng mùa khô 2007-2008 nên không xảy ra tình trạng cháy. Sản xuất nông lâm nghiệp và thuỷ sản đạt kết quả như sau:

Ước thực hiện giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản là 7.083,9 tỷ đồng (giá cố định 1994), đạt 101,1% kế hoạch, tăng 6% so với thực hiện năm 2007. Trong đó: Giá trị sản xuất nông nghiệp là 6.515,5 tỷ đồng, đạt 100,8% kế hoạch, tăng 6% (trồng trọt tăng 3,2%; chăn nuôi tăng 13,1%; dịch vụ nông nghiệp tăng 3%); Giá trị sản xuất lâm nghiệp là 81,7 tỷ đồng, đạt 109,8% kế hoạch, bằng so cùng kỳ; giá trị sản xuất thủy sản là 486,7 tỷ đồng, đạt 104,6% kế hoạch, tăng 6,6% so cùng kỳ. Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp: Ngành nông nghiệp chiếm 92%, lâm nghiệp chiếm 1,1%, thủy sản chiếm 6,9%. Trong cơ cấu ngành nông nghiệp: Trồng trọt chiếm 67,3%, chăn nuôi chiếm 28,6%, dịch vụ chiếm 4,1%; cơ cấu ngành lâm nghiệp: trồng rừng tu bổ chiếm 17,8%, khai thác chiếm 44,3%, dịch vụ chiếm 37,9%; cơ cấu ngành thuỷ sản: nuôi thuỷ sản chiếm 91,6%, khai thác chiếm 5,4%, dịch vụ chiếm 3%.

3. Về thương mại - dịch vụ:

- Tổ chức nhiều hoạt động xúc tiến thương mại như: Hội chợ khuyến mại từ ngày 05/5-11/5/2008, “Hội chợ hàng Việt Nam chất lượng cao’’ , tổ chức Hội chợ triển lãm “Điểm hẹn doanh nhân lần III ’’; tổ chức, hỗ trợ cho 33 doanh nghiệp tham gia 5 hội chợ tại TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Long An, Bình Thuận và Hà Tĩnh; Hội chợ đầu tư Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam....nhằm quảng bá thương hiệu và giới thiệu hình ảnh doanh nghiệp hoạt động của tỉnh, trong đó chú trọng một số doanh nghiệp vừa và nhỏ.   

 - Đầu tư, sắp xếp và tăng cường quản lý hoạt động các chợ, phát triển siêu thị, trung tâm thương mại, chợ hệ thống cửa hàng tiện ích được quy hoạch và triển khai xây dựng, đã đưa vào hoạt động như siêu thị điện máy chợ lớn, Coop-Mart Biên Hòa, Vinatex...nhằm đáp ứng nhu cầu mua sắm của nhân dân. Phát triển và quản lý mạng lưới kinh doanh xăng dầu theo quy hoạch.

- Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ dự kiến đạt 36.545 tỷ đồng, đạt 108,1% kế hoạch, tăng 35,1% so cùng kỳ. Trong đó: Kinh tế nhà nước đạt 3.180 tỷ đồng, đạt 117,6% kế hoạch, tăng 25,2%; kinh tế ngoài quốc doanh đạt 31.250 tỷ đồng, đạt 107,4% kế hoạch, tăng 37,3%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 2.115 tỷ đồng, đạt 104,2% kế hoạch, tăng 20,7% so cùng kỳ.

- Các hoạt động dịch vụ tiếp tục phát triển:

+ Dịch vụ vận tải phát triển đáp ứng nhu cầu vận tải hàng hóa và hành khách trên địa bàn, tính đến nay trên địa bàn tỉnh có 135 tuyến vận tải với 265 xe/8.126 ghế khai thác đối lưu với 22 tỉnh, thành phố trong cả nước; có 25 tuyến xe buýt vận hành 213.713 chuyến, ngoài ra còn có 3 doanh nghiệp vận tải taxi hoạt động với 243 xe/1.598 ghế. Về sản lượng vận chuyển hàng hoá năm 2008 là 3,180 tỷ tấn vận chuyển và 324 tỷ tấn-km luân chuyển; đạt 100% kế hoạch, bằng 98% so cùng kỳ (đạt thấp so cùng kỳ do tăng giá vật tư, nhiên liệu nên một số doanh nghiệp giảm vận chuyển hàng hoá). Về sản lượng hành khách đạt 40,573 tỷ hành khách vận chuyển và 3.029 tỷ hành khách-km luân chuyển; đạt 100% kế hoạch, tăng 3% so cùng kỳ.

+ Hoạt động du lịch: Các đơn vị kinh doanh du lịch chủ động đổi mới các sản phẩm du lịch, giảm chi phí đầu vào, mở thêm các tour du lịch mới, tăng cường tuyên truyền, quảng bá du lịch. Ước tổng lượt khách cả năm 2008 là 1,37 tỷ lượt, đạt 101,6% so kế hoạch và doanh thu du lịch là 250 tỷ đồng, đạt 102,1% kế hoạch.

+ Dịch vụ bưu chính viễn thông: Triển khai kết nối, sử dụng mạng truyền số liệu chuyên dùng của cơ quan Đảng và Nhà nước với đường truyền tốc độ cao, đảm bảo an toàn thông tin trong giao dịch. Bước đầu đưa công nghệ truy cập ADSL ở thành phố, thị xã, thị trấn qua công nghệ IP tạo sự tiện ích và chất lượng của dịch vụ sử dụng. Các doanh nghiệp viễn thông tích cực đầu tư phát triển, đặc biệt là Công ty Viettel, Mobile có tốc độ phát triển dịch vụ thông tin di động nhanh, chất lượng phủ sóng tốt, giá cả phù hợp đã thu hút nhiều khách hàng sử dụng. Ước doanh thu Bưu chính viễn thông đạt 1.785 tỷ đồng, đạt 102% kế hoạch, tăng 17,7% so cùng kỳ. Số máy điện thoại đạt 66,9 máy/100 dân; thuê bao internet đạt 14,2 máy/100 dân; hoạt động bưu chính viễn thông đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt và đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội.

+ Hoạt động ngân hàng:

Dự kiến đến 31/12/2008 tổng vốn huy động trên địa bàn đạt 27.696 tỷ đồng, tăng 38,1% so với 31/12/2007. Doanh số cho vay đạt 50.175 tỷ đồng, giảm 6,1% so cùng kỳ, trong đó: doanh số cho vay ngắn hạn là 41.375 tỷ đồng, giảm 3,4% so cùng kỳ; doanh số cho vay trung hạn là 8.800 tỷ đồng, giảm 17,4% so cùng kỳ. Tổng dư nợ đến 31/12/2008 là 26.469 tỷ đồng, tăng 11% so với đầu năm.

Hoạt động dịch vụ ngân hàng trên địa bàn ngày càng phát triển tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng đến giao dịch. Đến nay có trên 340.000 tài khoản tiền gửi thanh toán của các tổ chức kinh tế và cá nhân, 33 ngân hàng trên địa bàn tham gia thanh toán bù trừ điện tử. Thẻ ATM – thẻ tín dụng: Ước tổng số thẻ phát hành đến tháng 12/2008 trên 407.000 thẻ, 170 máy ATM.

Về chất lượng tín dụng: Đến cuối tháng 9 tổng nợ xấu (nhóm 3-5) của các tổ chức tín dụng trên địa bàn là 1.231 tỷ đồng, chiếm 4,8% tổng dư nợ, tăng 1.119 tỷ đồng so với đầu năm. Trong đó: nợ khó có khả năng thu hồi 167 tỷ đồng, chiếm 0,65% tổng dư nợ, tăng 134 tỷ đồng so với đầu năm. Các ngân hàng thương mại có tỷ lệ nợ xấu cao như ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Đồng Nai (chiếm 18,9% dư nợ); Ngân hàng Công thương chi nhánh Long Thành (chiếm 18% dư nợ); Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Biên Hoà (chiếm 11,1% dự nợ); Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Nhơn Trạch (chiếm 7,24% dư nợ) và Ngân hàng Nông nghiệp KCN (chiếm 7,7% dư nợ).

Các tổ chức tín dụng trên địa bàn thực hiện điều chỉnh cơ cấu đầu tư, tập trung vào việc phát triển dịch vụ ngân hàng, thắt chặt cấp tín dụng, kiểm soát chặt chẽ các khoản vay và thu hồi nợ; thực hiện giải ngân đối với những trường hợp tín dụng có phương án khả thi, có phương án giải ngân cao. Do đó tốc độ tăng trưởng tín dụng trong năm thấp nhất trong vòng 5 năm qua, chỉ tăng 11% so với năm 2007 (năm 2003 tăng 19,7%, năm 2004 tăng 26,3%; năm 2005 tăng 14,6%; năm 2006 tăng 24,7%; năm 2007 tăng 44,5%). Dư nợ tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản trên địa bàn chiếm khoảng 12% tổng dư nợ cho vay; dư nợ cho vay lĩnh vực xuất nhập khẩu chiếm trên 25% tổng dự nợ cho vay; dư nợ cho vay đối với lĩnh vực đáp ứng phục vụ nhu cầu đời sống chiếm 4,5% tổng dư nợ. Tình hình hiện nay, lãi suất ngân hàng cho vay cao dẫn đến tình hình kinh doanh và lợi nhuận của doanh nghiệp giảm sút, ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng ngân hàng. Dư nợ trên địa bàn đang có xu hướng giảm nhưng tình trạng nợ xấu đang có dấu hiệu gia tăng .

- Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu ước là 14,995 tỷ USD, đạt 99% kế hoạch, tăng 27,5% so cùng kỳ. Trong đó: Kim ngạch xuất khẩu dự kiến đạt 6,849 tỷ USD, đạt 97,7% kế hoạch, tăng 25,1% so cùng kỳ (trong đó: Doanh nghiệp Trung ương là 170,9 triệu USD, đạt 97,1% kế hoạch, tăng 23,7%; doanh nghiệp địa phương là 390,6 triệu USD, đạt 97,6% kế hoạch, tăng 24,6%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 6.287,5 tỷ USD, đạt 97,7% kế hoạch, tăng 25,2% so cùng kỳ). Kim ngạch nhập khẩu ước là 8,146 tỷ USD, đạt 99,3% kế hoạch, tăng 28,7% so cùng kỳ (trong đó: Doanh nghiệp Trung ương là 88,4 triệu USD, đạt 102,6% kế hoạch, tăng 20,6%; doanh nghiệp địa phương là 173,9 triệu USD, đạt 102% kế hoạch, tăng 22,3%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 7884,2 tỷ USD, đạt 99,2% kế hoạch, tăng 28,9% so cùng kỳ. Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là cà phê, cao su, hạt điều nhân, mật ong, giày dép, hàng mộc tinh chế, gốm thủ công mỹ nghệ, hàng may mặc; thị trường xuất khẩu chủ yếu tập trung ở một số nước thuộc Châu Á, Châu Âu và Hoa Kỳ. Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là hạt điều thô, phân bón, hóa chất công nghiệp, máy móc thiết bị, nguyên phụ liệu phục vụ cho sản xuất.

Giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt thấp so kế hoạch và tăng thấp so mục tiêu Nghị quyết (mục tiêu nghị quyết tăng 28% so với năm 2007) là do ảnh hưởng tình hình biến động kinh tế thế giới và trong nước như nói trên. Riêng mặt hàng linh kiện điện tử xuất khẩu giảm do công ty Fujitsu cạnh tranh hạn chế so với sản phẩm xuất khẩu cùng loại của Trung Quốc. Ngoài ra giá hạt điều thô nhập đầu vào cao nên sản lượng xuất khẩu mặt hàng này cũng giảm.

4. Về thu chi ngân sách:

Ước tổng thu ngân sách Nhà nước là 11.536,5 tỷ đồng (trong đó thu từ xổ số kiến thiết là 324 tỷ đồng, đạt 100% kế hoạch, bằng 91,5% so cùng kỳ), đạt 107% dự toán, tăng 16,5% so cùng kỳ. Trong đó: thu nội địa là 7.162,5 tỷ đồng, đạt 102,5% dự toán, tăng 13% so cùng kỳ; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu là 4.050 tỷ đồng, đạt 116,7% dự toán, tăng 25,8% so cùng kỳ.

Ước tổng chi ngân sách địa phương là 4.161,1 tỷ đồng, đạt 99,2% kế hoạch, bằng 90,1% so cùng kỳ. Trong đó chi cho đầu tư phát triển là 1.390 tỷ đồng, đạt 93% kế hoạch; chi thường xuyên là 2.313,2 tỷ đồng, đạt 103,5% kế hoạch, bằng 100% so cùng kỳ.

5. Về thu hút vốn đầu tư:

a. Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI):

Ước thực hiện năm 2008 thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là 3 tỷ USD. Trong đó: 80 dự án cấp mới có vốn đầu tư là 2,2 tỷ USD và 110 dự án tăng vốn với số vốn tăng thêm là 800 triệu USD. Về ngành nghề đầu tư, tỉnh nâng dần chất lượng dự án, đã chú trọng ưu tiên kêu gọi đầu tư theo mục tiêu Nghị quyết, kết quả trong năm 2008 có: 2 dự án công nghệ kỹ thuật cao, vốn đầu tư 95 triệu USD, chiếm 5% vốn đăng ký mới; ngành công nghiệp khác 63 dự án, vốn đăng ký 325 triệu USD, chiếm 15% vốn đăng ký mới; ngành dịch vụ 15 dự án, vốn đăng ký 1.780 triệu USD, chiếm 80% vốn đăng ký mới.

b. Thu hút đầu tư trong nước:

Ước thực hiện năm 2008 có 50 dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư và 6 dự án tăng vốn, với tổng vốn là 21.700 tỷ đồng (khoảng 1,3 tỷ USD). Trong đó dự án thuộc ngành dịch vụ chiếm tỷ lệ 88% tổng vốn đầu tư, dự án thuộc lĩnh vực công nghiệp chiếm tỷ lệ 12% tổng vốn đầu tư.

Ngoài ra, trong năm 2008, tổng vốn đăng ký kinh doanh là 18.000 tỷ đồng, bằng 91% so cùng kỳ, đạt 100% kế hoạch. Trong đó: Có 1.800 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 12% so cùng kỳ; vốn đăng ký là 13.000 tỷ đồng, bằng 94% so cùng kỳ. Có 530 lượt doanh nghiệp đăng ký bổ sung vốn, tăng 11,6% so cùng kỳ; vốn đăng ký bổ sung là 5.000 tỷ đồng, bằng 84% so cùng kỳ. Lũy kế đến nay, tổng số doanh nghiệp dân doanh trên địa bàn là 8.300 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký trên 50.000 tỷ đồng (kể cả vốn đăng ký bổ sung).

6. Đầu tư phát triển:

Tổng vốn đầu tư thực tế triển khai năm 2008 là 26.735 tỷ đồng, tăng 31,8% so thực hiện năm 2007, chiếm 49,6% GDP. Trong đó: Vốn trong nước chiếm 46,1%, vốn nước ngoài chiếm 53,9%.

7. Phát triển các Khu công nghiệp, cụm công nghiệp:

Tổng cộng đến nay có 29 KCN được phép hoạt động với diện tích là 9.076 ha; diện tích cho thuê 5.452 ha, trong đó đã cho thuê 3.557 ha, tỷ lệ lấp đầy đạt 65,2% (chưa tính diện tích của 2 KCN mới thành lập là KCN Giang Điền và KCN Dầu Giây).

- Về cụm công nghiệp: Đến nay, tỉnh đã quy hoạch 43 cụm công nghiệp, với tổng diện tích là 2.123 ha; trong đó có 24 cụm công nghiệp được phê duyệt chi tiết và 19 cụm công nghiệp đang lập quy hoạch. Có 2 cụm CN đầu tư hoàn thiện hạ tầng theo quy hoạch là cụm CN Vật liệu xây dựng Hố Nai 3 và cụm CN Bình Sơn; các cụm CN còn lại đang trong quá trình lập các thủ tục đầu tư hạ tầng theo quy định. Có 15/43 cụm CN có doanh nghiệp đầu tư hạ tầng.

8. Về công tác cổ phần hóa đổi mới doanh nghiệp nhà nước:

- Hoàn thành công tác cổ phần hóa 7 doanh nghiệp gồm: Công ty xuất nhập khẩu Đồng Nai, Trung tâm thẩm định giá Đồng Nai, Công ty vận tải thủy bộ Đồng Nai, Công ty cao su màu Đồng Nai và 3 xí nghiệp trực thuộc công ty TNHH 1 TV xây dựng cấp nước Đồng Nai.

- Kiểm tra lại các doanh nghiệp đã thực hiện cổ phần hóa theo Nghị định số 109/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ.

- Triển khai thực hiện công tác cổ phần hóa 4 doanh nghiệp: Công ty chế biến xuất nhập khẩu nông sản thực phẩm Đồng Nai, Xí nghiệp dịch vụ khu công nghiệp Sonadezi, Công ty sách thiết bị trường học và Công ty phát hành sách.

- Thực hiện chuyển đổi mô hình quản lý trường Cao đẳng công nghệ quản trị Sonadezi từ công lập sang tư thục.

* Tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có vốn nhà nước hoạt độntg theo mô hình Công ty mẹ-con:

(1). Tổng công ty Công nghiệp thực phẩm Đồng Nai:

Tổng doanh thu 5.916 tỷ đồng, đạt 118,5% kế hoạch năm, tăng 25,5% so với cùng kỳ. Nộp ngân sách đạt 773 tỷ đồng, đạt 107,4 % kế hoạch năm, tăng 6,8% so với cùng kỳ. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn Nhà nước là 22,47%, đạt 164,3% kế hoạch năm, bằng 96,4% so với cùng kỳ. Trong tổ hợp có 02 công ty hoạt động trong lĩnh vực thương mại – dịch vụ lỗ là Công ty cổ phần chế biến hàng xuất khẩu (lỗ 1,8 tỷ) và Công ty cổ phần xuất nhập khẩu Đồng Nai (lỗ 4 tỷ).

(2). Công ty Phát triển khu Công nghiệp Biên Hòa:

Tổng doanh thu là 1.967 tỷ đồng, đạt 100,3 kế hoạch; Nộp ngân sách đạt 192 tỷ đồng, đạt 156,3 % kế hoạch; Lợi nhuận trước thuế 342 tỷ đồng, đạt 122,9% kế hoạch; Tỷ suất lợi nhuận trên vốn nhà nước là 17,4%, đạt 108,9% kế hoạch.

(3). Công ty Chế biến xuất nhập khẩu NSTP Đồng Nai:

Tổng doanh thu là 1.030 tỷ đồng, đạt 107,9% kế hoạch; Nộp ngân sách là 19,499 tỷ đồng, đạt 132,6 % kế hoạch; Lợi nhuận trước thuế 32 tỷ đồng, đạt 120,73% kế hoạch; Tỷ suất lợi nhuận trên vốn nhà nước là 21,9%, đạt 134,2% kế hoạch.

9. Về khoa học và công nghệ:

Các hoạt động khoa học- công nghệ trọng điểm được đẩy mạnh; thúc đẩy doanh nghiệp chú trọng đầu tư đổi mới công nghệ và ứng dụng khoa học. Trong năm 2008, theo dõi, quản lý 52 đề tài, dự án nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ đang triển khai; Tổng kết-nghiệm thu và chuyển giao kết quả để ứng dụng vào thực tế sản xuất và đời sống 26 đề tài, dự án; Sơ kết 16 đề tài, dự án; Hội thảo khoa học 01 đề tài, dự án. Đẩy mạnh thực hiện các chương trình khoa học và công nghệ phục vụ 12 chương trình phát triển kinh tế- xã hội tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2006-2010. Tiếp tục triển khai nội dung chương trình hành động liên Bộ số 168 về hợp tác phòng chống xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; tăng cường công tác quản lý tiêu chuẩn đo lường chất lượng, giám sát hàng in đăng bạ công bố chất lượng sản phẩm. Các hoạt động ứng dụng khoa học công nghệ, các thành tựu, kết quả ứng dụng được đưa vào sản xuất và đời sống, đã có những kết quả thiết thực. 

10. Quản lý tài nguyên môi trường:

Về quản lý đất đai: Hoàn thành 100% công tác đo đạc thành lập bản đồ địa chính của 9 xã trên địa bàn huyện Nhơn Trạch. Công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Dự kiến năm 2008 cấp được khoảng 37.000 giấy cho hộ gia đình cá nhân và 900 giấy cho tổ chức; luỹ kế đến cuối năm 2008 cấp được 463.045 giấy. Hoàn thành đăng ký đất đai lập hồ sơ địa chính cho 3 xã huyện Long Thành và 2 xã huyện Nhơn Trạch; hoàn thành cấp phép thăm dò nước dưới đất và cấp phép khai thác nước dưới đất cho 100% hồ sơ đã nhận; hoàn thành kế hoạch thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp theo Nghị định 67/2003/NĐ-CP của Chính phủ.

Tổ chức thực hiện tốt công tác quản lý tài nguyên nước và khoáng sản, hoàn thành cấp phép thăm dò nước dưới đất và cấp phép khai thác nước dưới đất cho 100% số hồ sơ đã nhận. Giải quyết 100% hồ sơ cấp phép khoáng sản.

Một số tồn tại: Tiến độ thực hiện các công trình đo đạc lập lại bản đồ địa chính, xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung tại các khu công nghiệp, xây dựng bãi chôn lấp chất thải chậm. Công tác quản lý nhà nước về chất thải của các nhà máy, doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, bất cập ảnh hưởng đến môi trường cộng đồng, đặc biệt là tình trạng ô nhiễm môi trường trên sông Thị Vải do chất thải của nhà máy bột ngọt Vedan.

11. Lĩnh vực văn hóa xã hội:

- Hoạt động văn hóa, thể dục thể thao: Đã tổ chức nhiều hoạt động kỷ niệm với nhiều hình thức, nội dung phong phú, đa dạng, mang ý nghĩa chính trị, xã hội, diễn ra sôi nổi ở hầu hết các địa phương; tạo không khí phấn khởi, thu hút đông đảo quần chúng tham gia. Nổi bật là các hoạt động kỷ niệm 78 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, 33 năm Ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, kỷ niệm Đại lễ Phật đản Liên hiệp quốc, Ngày thương binh liệt sĩ và kỷ niệm 310 năm Biên Hòa-Đồng Nai. Hoạt động phát thanh truyền hình có nhiều tiến bộ về hình thức và nội dung chương trình ngày càng phong phú và đa dạng. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” tiếp tục được giữ vững và nâng cao về chất lượng, phát triển sâu rộng đi vào đời sống nhân dân. Tổ chức triển khai cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Các hội thi, hội diễn thể thao quần chúng được tổ chức rộng khắp trong nhân dân nhằm phát hiện và cung cấp tài năng trẻ cho các giải toàn quốc và Quốc tế.

- Giáo dục đào tạo: Hoàn thành các chỉ tiêu nhiệm vụ năm học 2007-2008, tổ chức tốt kỳ thi tốt nghiệp THPT và bổ túc THPT nghiêm túc, đúng quy chế với tỷ lệ tốt nghiệp THPT đạt tỷ lệ 84,7% (tăng 1% so với cùng kỳ), bổ túc THPT đạt tỷ lệ 50% (tăng 15% so cùng kỳ). Tổ chức tổng kết năm học 2007-2008 và triển khai nhiệm vụ năm học 2008-2009 với chủ đề: Năm học đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, đổi mới quản lý tài chính và triển khai phong trào xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực. Đến đầu năm học 2008-2009, toàn ngành giáo dục và đào tạo có 28.446 cán bộ quản lý và giáo viên; trong đó: ngành học mầm non có 5.569 người, cấp tiểu học có 10.797 người, cấp trung học cơ sở có 8.757 người, cấp trung học phổ thông có 2.703 người và ngành giáo dục thường xuyên có 264 người. Tổ chức hội thảo chuyên đề về thực hiện đổi mới công tác quản lí chuyên môn trường tiểu học, thực hiện điều chỉnh dạy-học. Tiến hành kiểm tra đề nghị công nhận trường đạt chuẩn quốc gia (THCS Nguyễn Chí Thanh và THCS Phú Xuân – Tân Phú); phối hợp theo dõi tiến độ xây dựng trường Trung cấp kỹ thuật công nghiệp Nhơn Trạch, theo dõi Đề án nâng cấp trường Cao đẳng sư phạm lên Đại học và các trường Trung cấp chuyên nghiệp lên Cao đẳng.

- Y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân:

+ Tăng cường công tác phòng chống dịch bệnh, hoạt động hành nghề y dược tư nhân, vệ sinh an toàn thực phẩm, dược phẩm, mỹ phẩm trên địa bàn. Công tác xã hội hóa được đẩy mạnh góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh. Đẩy mạnh quá trình thực hiện chính sách quốc gia về thuốc, phát triển mạng lưới phân phối thuốc đến vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Thực hiện hoàn thành các chương trình mục tiêu Quốc gia về y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân. Công tác dân số-kế hoạch hóa gia đình được duy trì đều đặn và hoàn thành các chỉ tiêu cơ bản; quan tâm, bảo vệ chăm sóc trẻ em với các hoạt động thiết thực.

+ Môt số tồn tại: Sốt xuất huyết, sốt rét và một số bệnh chân tay miệng tăng. Tiến độ tiếp nhận và đưa bác sĩ về công tác tuyến cơ sở còn chậm. Thái độ phục vụ và kỹ năng giao tiếp của cán bộ y tế còn hạn chế, gây phiền hà cho bệnh nhân.

- Giải quyết việc làm cho 85.000 lao động, đạt 100% kế hoạch, trong đó đưa vào các doanh nghiệp 49.500 người, giải quyết việc làm thông qua các chương trình kinh tế-xã hội 35.000 người, xuất khẩu lao động 464 người. Tuyển mới và đào tạo nghề cho 55.300 lao động, đạt 100% kế hoạch; tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 37,5%.

- Công tác giảm nghèo, chăm lo các đối tượng chính sách luôn được chú trọng. Đã chỉ đạo các địa phương tổ chức kỷ niệm 61 năm Ngày thương binh liệt sĩ, thăm tặng quà và cấp phát trợ cấp Tết cho 37.687 đối tượng hưởng chính sách với số tiền 11,4 tỷ đồng; cho vay ưu đãi 7.000 hộ nghèo với số tiền 85 tỷ đồng; phối hợp với các ngành, các đoàn thể và tổ chức xã hội xây dựng phong trào toàn dân tích cực tham gia phòng chống tệ nạn xã hội.

12. Thực hiện các Chương trình mục tiêu Quốc gia:

a/. Tổng kế hoạch vốn đầu tư các chương trình mục tiêu quốc gia là 241.832 triệu đồng. Trong đó: Ngân sách trung ương cấp 40.310 triệu đồng, chiếm 16,7%; ngân sách địa phương bổ sung 201.522 triệu đồng, chiếm 84,3%. Ước thực hiện năm 2008 là 241.758 triệu đồng, đạt 99,9% kế hoạch. Trong đó ngân sách trung ương cấp 43.536 triệu đồng, đạt 108% kế hoạch; ngân sách địa phương và huy động cộng đồng là 198.222 triệu đồng, đạt 98,4% kế hoạch. Trong tổng số vốn thực hiện có 89.181 triệu đồng vốn đầu tư phát triển, đạt 99,8% kế hoạch.

b/. Kết quả thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia như sau:

+ Chương trình việc làm: giải quyết việc làm cho 85.000 lao động, đạt 100% kế hoạch. Do nguồn vốn cho vay để giải quyết việc làm chưa đáp ứng được nhu cầu nên tình trạng lao động chưa có việc làm hoặc việc làm không ổn định vẫn còn tồn tại.

+ Chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn: Do giá vật tư biến động mạnh dẫn đến các dự án phải lập, điều chỉnh và thẩm định lại tổng dự toán nên triển khai chậm.

+ Chương trình dân số và kế hoạch hóa gia đình: ước vốn thực hiện chương trình là 10.323 triệu đồng, đạt 105,5% kế hoạch; chương trình ngày càng đi vào nề nếp và hoạt động có hiệu quả thể hiện ở tỷ lệ tăng dân số tự nhiên đạt 1,16%, tỷ lệ giảm sinh đạt 0,03%. 

+ Chương trình văn hóa: do kinh phí còn hạn chế nên kết quả và chất lượng hoạt động của công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở chưa đáp ứng được nhu cầu nhất là ở các xã vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc.

+ Chương trình giáo dục và đào tạo: Ước kinh phí thực hiện chương trình là 88.007 triệu đồng, đạt 100% kế hoạch; do đội ngũ cán bộ dạy nghề thiếu về số lượng và năng lực chưa cao nên chất lượng đào tạo, dạy nghề còn thấp, chưa đáp ứng được thị trường lao động.

+ Chương trình phòng chống tội phạm: ước thực hiện kinh phí là 1.920 triệu đồng, đạt 100% kế hoạch; thường xuyên tiến hành các hoạt động phòng chống tệ nạn xã hội, các loại tội phạm đảm bảo kỷ cương, trật tự an toàn xã hội.

13. Thực hiện chương trình 134 và 135:

- Thực hiện chương trình 134: Tổng kinh phí là 22.925,66 triệu đồng; trong đó nguồn vốn Trung ương hỗ trợ là 14.150 triệu đồng, nguồn vốn đối ứng của địa phương từ nguồn vượt thu tiền sử dụng đất năm 2008 là 8.775,66 triệu đồng. Đến nay đã thực hiện được về hỗ trợ đất sản xuất cho 31 hộ, đất ở 422 hộ, nhà ở 1.680 hộ và nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo phân tán 2.304 hộ, hoàn chỉnh 5 hệ cấp nước tập trung. Ước thực hiện đến cuối năm 2008 cơ bản hoàn thành Chương trình 134 về các chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo. Riêng huyện Định Quán việc hỗ trợ nhà ở cho đồng bào dân tộc còn 116 căn phải chuyển sang năm 2009 vì hiện nay huyện đang rà soát tìm quỹ đất cho phù hợp với quy hoạch các điểm dân cư.

- Về chương trình 135:

Dự án phát triển cơ sở hạ tầng 70 ấp đặc biệt khó khăn thuộc 41 xã khu vực II của Chương trình 135 giai đoạn II năm 2008 với tổng kinh phí là 10.500 triệu đồng từ nguồn vốn khai thác quỹ đất năm 2007 (đợt 2). Hiện nay UBND các huyện và thị xã Long Khánh đang tổ chức triển khai thực hiện.

UBND tỉnh tiếp tục giao chỉ tiêu kinh phí phát triển cơ sở hạ tầng 06 xã đặc biệt khó khăn khu vực III của Chương trình 135 giai đoạn II năm 2008 với tổng kinh phí là 4.800 triệu đồng từ nguồn vượt thu tiền sử dụng đất năm 2008.

14. Thực hiện cải cách hành chính:

- Đổi mới quy trình giải quyết hồ sơ 1 cửa đối với lĩnh vực cấp giấy chứng nhận đầu tư, giấy đăng ký kinh doanh và thẩm định hồ sơ dự án đầu tư, hồ sơ đấu thầu.

- Thực hiện phân cấp quản lý nhà nước một số lĩnh vực: Phân cấp tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức, viên chức thuộc UBND tỉnh Đồng Nai. Phân cấp quản lý quy hoạch, đào tạo, sử dụng cán bộ quản lý doanh nghiệp. Phân cấp về thoả thuận địa điểm sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh. Uỷ quyền, phân cấp thẩm định, phê duyệt hồ sơ đầu tư xây dựng trên địa bàn. Uỷ quyền, phân cấp thẩm định, phê duyệt hồ sơ kế hoạch đấu thầu, hồ sơ mời thầu, kết quả lựa chọn nhà thầu. Phân cấp, uỷ quyền cấp phép xây dựng công trình trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.

- Đến nay toàn tỉnh đã thực hiện cải cách theo cơ chế “một cửa” tại 18/20 sở ngành, đạt tỷ lệ 90% và 11/11 huyện; 171/171 xã, phương và thị trấn. Thực hiện chương trình cải cách thủ tục hành chính Nhà nước theo cơ chế “một cửa” có tiến bộ. Một số cơ quan, ngành đã công khai minh bạch các thủ tục, hồ sơ, mức phí, lệ phí ...theo quy định, rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục, thực hiện làm việc ngày thứ bảy theo quy định của Chính phủ.

15. Công tác ngoại vụ:

- Đoàn ra: giải quyết 114 đoàn ra, 160 cá nhân với tổng số 755 lượt người ra nước ngoài công tác, giải quyết việc riêng tại 21 Quốc gia và vùng lãnh thổ. Chấp thuận cho 154 đoàn vào hoạt động trên địa bàn, nhiều hơn 3 đoàn vào so với năm 2007, các đoàn đến từ 22 nước.

- Thực hiện tốt công tác lãnh sự, đảm bảo quyền lợi và an toàn tính mạng người nước ngoài công tác trên địa bàn tỉnh.

- Công tác Việt kiều: Tổ chức tốt buổi họp mặt kiều bào và thân nhân kiều bào nhân dịp Xuân Mậu Tý 2008. Vận động các trí thức doanh nhân Việt kiều tham gia thành lập Ban vận động câu lạc bộ trí thức, doanh nhân Việt kiều tỉnh Đồng Nai.

- Công tác quản lý hộ chiếu: thực hiện quản lý 856 hộ chiếu, trong đó có 4 hộ chiếu ngoại giao, 825 hộ chiếu công vụ và 338 hộ chiếu phổ thông.

- Duy trì và thực hiện tốt công tác hợp tác hữu nghị giữa tỉnh đồng Nai với các địa phương trong và ngoài nước.   

16. Về quốc phòng – an ninh:

Công tác an ninh chính trị được thực hiện tốt, tăng cường bám sát địa bàn nắm tình hình, bảo vệ an toàn các ngày lễ, tết quan trọng; giải quyết ổn định các vụ đình công; giảm số vụ phạm pháp hình sự; kiểm soát được các hoạt động tội phạm ma túy; đấu tranh có hiệu quả đối với các tổ chức, đối tượng phản động, cực đoan. Thực hiện tốt 2 đợt tuyển quân nghĩa vụ quân sự, đạt 100% kế hoạch đề ra. Tổ chức diễn tập khu vực phòng thủ cấp huyện (PT-08); Chỉ đạo cho các địa phương tổ chức diễn tập kế hoạch chiến đấu trị an và phòng không nhân dân cho 40 xã, phường, thị trấn.

17. Công tác thanh tra; giải quyết khiếu nại, tố cáo; phòng, chống tham nhũng:

a. Công tác thanh tra:

9 tháng đầu năm thực hiện 152 cuộc thanh tra trên các lĩnh vực trong đó: Thanh tra theo kế hoạch 144 cuộc, thanh tra đột xuất 8 cuộc; đang thực hiện 10 cuộc. Sai phạm về kinh tế được phát hiện qua thanh tra tổng số tiền là 9.531 triệu đồng, kiến nghị  thu hồi nộp ngân sách 7.576 triệu đồng, xử lý bước đầu đã thu nộp ngân sách 3.137 triệu đồng, xử lý hành chính 24 cá nhân có sai phạm trong công tác quản lý chuyên môn, Chuyển 02 vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật về đất đai sang cơ quan điều tra để xử lý theo pháp luật.

Thanh tra tỉnh, Thanh tra các huyện, thị xã Long Khánh đã thực hiện hoàn thành 12 cuộc thanh tra diện rộng theo chỉ đạo của Thanh tra Chính phủ.

Ước thực hiện năm 2008: Triển khai thực hiện 100% số cuộc thanh tra trên các lĩnh vực theo chương trình, kế hoạch công tác đề ra và các cuộc thanh tra đột xuất theo yêu cầu của công tác quản lý nhà nước; kết thúc 90% số cuộc thanh tra; thực hiện trên 80% các kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý sau thanh tra.

b. Công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo:

Trong 9 tháng đầu năm 2008, các cơ quan hành chính nhà nước tiếp 6.292 lượt công dân đến khiếu nại tố cáo (giảm 964 lượt người đến khiếu nại, tố cáo so với cùng kỳ năm 2007); trong đó, có 49 lượt đoàn đông người đến Phòng tiếp dân của tỉnh và huyện để khiếu nại. Nội dung khiếu kiện chủ yếu là về công tác bồi thường, giải toả và tái định cư, đòi lại đất cũ...

Tiếp nhận đơn khiếu nại và tố cáo là 1.162 đơn ( khiếu nại 1.065 đơn, tố cáo 97 đơn); đã giải quyết 863 đơn/1162 đơn, đạt 74,3%.

Dự kiến cả năm 2008 giải quyết 90% số đơn thư khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của các cơ quan nhà nước; triển khai thực hiện 95% quyết định giải quyết khiếu nại, quyết định xử lý tố cáo có hiệu lực thi hành.

c. Công tác phòng, chống tham nhũng:

Tiếp tục theo dõi, đôn đốc xử lý 04 vụ việc sai phạm chuyển sang cơ quan điều tra.

Theo dõi, đôn đốc xử lý các vụ việc sai phạm do cơ quan thanh tra phát hiện chuyển sang cơ quan điều tra đề nghị khởi tố.

IV. Đánh giá chung và rút ra một số kinh nghiệm:

1. Những kết quả đạt được:

- Nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng khá cao, GDP bình quân đầu người đạt mức cao hơn gấp 1,3 lần so với bình quân chung của cả nước. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh theo hướng công nghiệp hoá, lĩnh vực dịch vụ phát triển khá nhanh so với các năm trước, nông nghiệp tiếp tục phát triển theo mục tiêu đề ra.

- Thu hút được một số dự án công nghệ cao vào các khu công nghiệp của tỉnh, tăng nhanh các dự án dịch vụ theo đúng hướng Nghị quyết.

- Môi trường kinh doanh tích cực được cải thiện và điều hành linh hoạt nhờ đó tiềm năng, thế mạnh về vị trí, đất đai và lao động được khai thác có hiệu quả; thu hút đầu tư tăng cao.

- Lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh, đến nay đã được thủ tướng Chính phủ cho phép thành lập khu công nông nghiệp và khu nông nghiệp ứng dụng kỹ thuật cao. Ngoài ra tỉnh cũng đang triển khai lập hồ sơ khu ứng dụng công nghệ sinh học.

- Cải cách hành chính bước đầu thu được kết quả tích cực, vai trò quản lý Nhà nước được củng cố và ngày càng phát huy hiệu quả trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội. Đặc biệt đã thực hiện cải cách hành chính theo cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” và thực hiện ISO trong các cơ quan hành chính sự nghiệp.

Đối chiếu với Chỉ tiêu chủ yếu Nghị quyết 94/2007/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh:

- Có 9/33 chỉ tiêu đạt cao hơn mục tiêu Nghị quyết, đó là: GDP bình quân đầu người theo giá hiện hành; Giá trị sản xuất ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản; Thu ngân sách trên địa bàn; Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài; Thu hút vốn đầu tư trong nước thông qua cấp giấy Chứng nhận đầu tư; Tỷ lệ lao động qua đào tạo; Tỷ lệ xã, phường, thị trấn đạt phổ cập bậc trung học; Tỷ lệ hộ nghèo; Mật độ điện thoại (kể cả di động) thuê bao/100 dân.

- Có 21/33 chỉ tiêu đạt mục tiêu Nghị quyết, gồm: Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP); Cơ cấu kinh tế; Giá trị tăng thêm các ngành dịch vụ; Vốn đầu tư thông qua đăng ký kinh doanh; Giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên; Giải quyết việc làm; Lao động được đào tạo mới; Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề; Tỷ lệ hộ dùng điện; Tỷ lệ trạm y tế có bác sỹ trong định biên; Tỷ lệ xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế; Tỷ lệ bác sỹ/1 vạn dân; Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng; Tỷ lệ trẻ em dưới 2 tuổi bị suy dinh dưỡng; Tỷ lệ ấp, khu phố văn hoá; Tỷ lệ hộ gia đình văn hoá; Tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch; Tỷ lệ thu gom xử lý rác thải sinh hoạt; Tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải y tế; Tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải nguy hại; Tỷ lệ che phủ rừng.

- Có 3/33 chỉ tiêu đạt tương đối thấp so với mục tiêu Nghị quyết là giá trị sản xuất ngành công nghiệp, giá trị xuất khẩu, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội.

2. Những hạn chế cần khắc phục:

Sản phẩm công nghiệp có hàm lượng công nghệ và kỹ thuật cao chiếm tỷ trọng nhỏ. Tốc độ tăng trưởng của khu vực dịch vụ chưa tương xứng với tiềm năng. Sản xuất nông nghiệp chưa có chuyển dịch nhanh theo hướng tiếp cận ứng dụng công nghệ hiện đại, sản xuất nông phẩm xanh, sạch.

- Doanh nghiệp trong nước trên địa bàn phát triển khá nhanh nhưng chưa đủ mạnh để đáp ứng yêu cầu phối hợp cùng phát triển có hiệu quả với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

- Chất lượng đào tạo nghề chưa đạt yêu cầu.

- Cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của địa phương.

- Tình trạng ô nhiễm nguồn nước do nước thải từ các khu đô thị tập trung và một số khu công nghiệp chưa xây dựng kịp nhà máy xử lý nước thải làm ảnh hưởng đến công tác bảo vệ môi trường.

- Công tác giảm nghèo tuy đạt và vượt về số lượng hộ nhưng chưa đảm bảo yếu tố bền vững.

- Tội phạm về trật tự xã hội, tệ nạn xã hội và tai nạn giao thông vẫn còn diễn biến phức tạp.

3. Nguyên nhân của các tồn tại nói trên:

- Tỉnh Đồng Nai chưa có khu công nghiệp cao nên hạn chế thu hút dự án công nghệ cao.

- Các dự án dịch vụ tăng nhanh trong 2 năm gần đây, phần lớn trong giai đoạn đầu tư xây dựng chưa đưa vào khai thác kinh doanh.

- Các doanh nghiệp trong nước phần lớn là doanh nghiệp vừa và nhỏ, chưa có kinh nghiệm, năng lực quản lý còn yếu.

- Nguồn vốn đầu tư cơ sở hạ tầng quá ít, việc huy động vốn đầu tư còn gặp nhiều khó khăn.

- Tình hình lạm phát ảnh hưởng đến các mặt của xã hội.

4. Một số kinh nghiệm trong điều hành:

Tình hình trong nước và thế giới gặp nhiều khó khăn, thách thức nhưng kinh tế của tỉnh tiếp tục phát triển; nhiều chỉ tiêu kinh tế xã hội đã đạt và vượt mức chỉ tiêu Nghị quyết đề ra, có thể rút ra một số kinh nghiệm sau:

4.1. Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết của Đảng, Chính phủ và Hội Đồng Nhân dân tỉnh một cách cụ thể gắn với tình hình thực tiễn địa phương và cả nước, trên cơ sở đó tích cực chủ động phối hợp, kiểm tra, đôn đốc quyết liệt việc thực thi nhiệm vụ có ý nghĩa quyết định trong lãnh đạo chỉ đạo điều hành kinh tế - xã hội địa phương.

4.2. Tỉnh tổ chức học tập quán triệt sâu rộng đến các doanh nghiệp tình hình thuận lợi, khó khăn sau khi gia nhập WTO và dự báo 1 số khó khăn có thể xảy ra vì vậy các doanh nghiệp có chủ động chuẩn bị kế hoạch sản xuất kinh doanh từ các năm trước nên trong năm 2008 ít bị ảnh hưởng đến trượt giá (các nguyên vật liệu chính cho sản xuất được chuẩn bị từ năm trước).

4.3. Sự đoàn kết nhất trí trong chỉ đạo điều hành của lãnh đạo Tỉnh ủy, HĐND tỉnh, UBND tỉnh và Mặt trận Tổ Quốc tỉnh; Có sự phối hợp tương đối đồng bộ của các Sở ban ngành, địa phương trong việc thực hiện nhiệm vụ.

Thực hiện cơ chế thống nhất trong lãnh đạo, phân công thực hiện và phối hợp chặt chẽ trong điều hành có trọng tâm, trọng điểm đối với những lĩnh vực then chốt, thống nhất giải quyết và xử lý triệt để các vấn đề với quyết tâm cao.

Phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị, phối hợp, liên kết chặt chẽ quá trình tập triển khai thực hiện là yếu tố quan trọng có ý nghĩa quyết định mọi thắng lợi; đặc biệt là việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ đảng viên, cán bộ công chức; sắp xếp, kiện toàn và hiện đại hóa bộ máy hành chính các cấp theo hướng tinh gọn, đảm bảo hoạt động có hiệu lực, hiệu quả. Xác định các vấn đề trọng tâm, trọng điểm, then chốt để có  biện pháp thống nhất xử lý kịp thời các vụ việc trong các lĩnh vực kinh tế -xã hội còn bức xúc có liên quan, đảm bảo tính hiệu lực, hiệu quả và giữ vững niềm tin, phấn khởi trong nhân dân. 

4.4. Phát triển nguồn nhân lực, phát hiện, thu hút nhân tài là vấn đề quan trọng trong quá trình triển khai thực hiện tốt công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ công chức trong lĩnh vực sự nghiệp, quản lý nhà nước và các doanh nghiệp, nhất là đối với đội ngũ cán bộ chủ chốt, đảm bảo thực sự có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trí tuệ, trình độ chuyên  môn, tâm huyết và trách nhiệm trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao.

Nhận thức rõ vấn đề trên, trong những năm qua, Tỉnh ủy, UBND tỉnh rất chú trọng đến công tác đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt là công tác bố trí, đánh giá  năng lực cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt.  Coi việc đánh giá đội ngũ cán bộ là cơ sở cho việc quy hoạch, đào tạo, sắp xếp, bố trí cán bộ; quy hoạch đào tạo phải đảm bảo đáp ứng yêu cầu cán bộ trước mắt và lâu dài. Đồng thời, có chính sách   đào tạo cán bộ đại học, sau đại học; thu hút cán bộ có trình độ cao đẳng, đại học về làm việc tại xã, phường. Kinh nghiệm cho thấy, song song với thực hiện tốt cơ chế  tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, phối hợp thực hiện và đặc biệt nơi nào làm tốt công tác cán bộ, vai trò người đứng đầu được thể hiện tốt thì nơi đó, ngành đó, địa phương đó tạo nên sự chuyển biến rõ nét.

4.5. Lãnh đạo tỉnh không chủ quan, nắm sát thực tế để chủ động điều hành phát triển kinh tế xã hội cho phù hợp tình hình biến động kinh tế thế giới và trong nước; quan tâm, tổ chức họp mặt, gặp gỡ doanh nghiệp nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trước tình hình lạm phát, giá cả, lãi suất ngân hàng tăng cao.

Phần thứ hai:

ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2009

I. BỐI CẢNH TRONG NƯỚC VÀ NGOÀI NƯỚC:

1. Thuận lợi:

- Tình hình an ninh, chính trị của Đồng Nai nói riêng và cả nước nói chung ổn định.

- Sau 2 năm Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) tạo điều kiện thuận lợi cho Đồng Nai mở rộng thị trường xuất khẩu, nhiều mặt hàng xuất khẩu của tỉnh đã thâm nhập vào thị trường lớn như Châu Âu (chiếm khoảng 75%), Châu Mỹ (khoảng 20%) còn lại là Châu Á và Châu Phi.

Thu hút đầu tư nước ngoài  và đầu tư trong nước tăng mạnh qua các năm tạo nguồn lực mạnh cho đầu tư phát triển; cơ cấu ngành nghề thu hút đầu tư đúng định hướng: tỷ lệ các ngành công nghiệp kỹ thuật cao và ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu thu hút vốn.

- Công tác cải cách hành chính cũng đạt được những kết quả đáng kể góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. 

2. Khó khăn:

- Năm 2009 nền kinh tế của 1 số quốc gia và của nước ta vẫn còn nhiều khó khăn và thách thức, mặc dù giá cả đầu vào có nhiều khả năng sẽ ổn định dần song vẫn có những diễn biến phức tạp, khó lường.

- Trong nước, tình hình biến động giá trong năm 2008 sẽ tiếp tục ảnh hưởng trong năm 2009 làm giảm hiệu quả trong sản xuất kinh doanh và ảnh hưởng tiến độ xây dựng công trình. Tỷ lệ lạm phát cao sẽ tiếp tục ảnh hưởng không thuận lợi đến tốc độ tăng trưởng kinh tế, xoá đói giảm nghèo và nhất là đến công tác an sinh xã hội và đời sống nhân dân, cụ thể một số mặt sau đây:

+ Việc điều chỉnh lãi suất ngân hàng cho vay cao làm ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh và xuất khẩu của các doanh nghiệp, đồng thời làm chậm tiến độ triển khai dự án đầu tư vì lãi suất cao làm cho hiệu quả dự án thấp, nhà đầu tư phải tính toán hạn chế mức vay.

+ Cơ sở hạ tầng phát triển chưa theo kịp phát triển kinh tế, đặc biệt là hệ thống giao thông vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam hầu như chưa được đầu tư nên tình trạng ùn tắc giao thông, tai nạn giao thông xảy ra làm bức xúc xã hội. Tình trạng ô nhiễm môi trường cũng là những thách thức lớn ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội và phát triển bền vững của tỉnh.

+ Giá cả tăng ảnh hưởng đến đời sống dân cư, đặc biệt là vùng nông thôn.

- Sự phá sản của một số ngân hàng Mỹ và Châu Âu làm ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện các dự án FDI trên địa bàn. Mặt khác, lạm phát, lãi suất ngân hàng tăng cao làm cho lương và chi phí đầu vào tăng cao ảnh hưởng hiệu quả đầu tư, tỷ suất lợi nhuận và giá trị gia tăng của doanh nghiệp.

II. NHIỆM VỤ VÀ CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU CỦA KẾ HOẠCH NĂM 2009:

1. Nhiệm vụ năm 2009:

1.1. Về kinh tế:

- Các ngành, các cấp, các doanh nghiệp thực hiện đồng bộ các giải pháp để đẩy mạnh phát triển sản xuất, dịch vụ và thu hút đầu tư đúng định hướng ưu tiên thu hút đầu tư. Tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp, trong đó tập trung tăng tỷ trọng dịch vụ.

- Nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả của sản xuất công nghiệp.

- Duy trì tốc độ tăng trưởng bền vững của ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản. Tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng phát triển  nông nghiệp nông thôn.

- Phát triển các ngành dịch vụ có tiềm năng, có giá trị gia tăng cao ; phát triển và nâng cao chất lượng vận tải, đảm bảo lưu thông hàng hoá và nhu cầu đi lại của nhân dân.

- Đẩy mạnh xuất khẩu, tiếp tục tháo gỡ những khó khăn, trở ngại liên quan đến xuất khẩu để giảm chi phí, nâng cao khả năng cạnh tranh các mặt hàng xuất khẩu địa phương.

- Tập trung đầu tư các dự án hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội, sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn; tăng cường công tác thanh tra nhằm ngăn ngừa có hiệu quả tình trạng tham ô, lãng phí, bảo đảm chất lượng công trình.

1.2. Nhiệm vụ phát triển khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo và các lĩnh vực khác:

- Ứng dụng vào thực tế các đề tài nghiên cứu khoa học đã được nghiệm thu. Đẩy mạnh xã hội hoá khoa học và công nghệ theo hướng hỗ trợ phát triển thị trường khoa học và công nghệ.

- Tập trung phát triển nhanh nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển, nhất là nguồn nhân lực có chất lượng để thu hút mạnh các dự án đầu tư có trình độ công nghệ cao, có giá trị gia tăng lớn.

- Tiếp tục thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia; các chương trình, dự án và chính sách an sinh xã hội, để hỗ trợ phát triển sản xuất, ổn định đời sống người nghèo, vùng nông thôn, vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc.

- Giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội bức xúc; đặc biệt là tình trạng tội phạm, ma túy, tai nạn giao thông, ách tắc giao thông.

1.3. Nhiệm vụ về bảo vệ môi trường:

- Xử lý nghiêm các trường hợp gây ô nhiễm môi trường ở các doanh nghiệp, khu công nghiệp, các khu đông dân cư. Hạn chế ô nhiễm môi trường đối với các sông thuộc hệ thống sông Đồng Nai.

- Sử dụng hợp lý, có hiệu quả và bền vững tài nguyên thiên nhiên, môi trường nước, bảo đảm cân bằng sinh thái, bảo tồn thiên nhiên.

- Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao nhận thức về môi trường; coi giữ gìn và bảo vệ môi trường là trách nhiệm của toàn xã hội.

1.4. Nhiệm vụ về quốc phòng – an ninh:

Tăng cường củng cố quốc phòng an ninh, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường chính trị ổn định cho phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế.

2. Dự kiến các chỉ tiêu kinh tế xã hội và môi trường năm 2009:

 (1). Các chỉ tiêu kinh tế:

- Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng trưởng 14,5% so với thực hiện năm 2008. Trong đó giá trị tăng thêm ngành công nghiệp - xây dựng 15,4%; ngành dịch vụ 17,3%; ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản 4,5%.

- GDP theo giá hiện hành dự kiến đạt 64.620 tỷ đồng, tương đương 3,756 tỷ USD; GDP bình quân đầu người theo giá thực tế là 25,747 triệu đồng (tương đương 1.497 USD).

- Cơ cấu kinh tế: ngành công nghiệp xây dựng chiếm 57,3%; ngành dịch vụ chiếm 32,5%; ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 10,2%.

- Giá trị sản xuất Công nghiệp (giá cố định 1994) là 91.584 tỷ đồng, tăng 20% so với năm 2008.

- Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản (giá cố định 1994) là 7.480,6 tỷ đồng, tăng 5,6% so với năm 2008.

- Kim ngạch xuất khẩu là 8,424 tỷ đồng, tăng 23%; nhập khẩu là 10,102 tỷ đồng, tăng 24%.

- Tổng nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội là 28.000 tỷ đồng, chiếm 43,3% GDP.

- Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là 2 tỷ USD (bao gồm đăng ký mới và dự án tăng vốn).

- Thu hút vốn đầu tư trong nước thông qua cấp giấy chứng nhận đầu tư 20.000 tỷ đồng. Doanh nghiệp trong nước đăng ký kinh doanh là 19.000 tỷ đồng (bao gồm đăng ký mới và đăng kỳ tăng vốn).

- Tổng thu ngân sách nhà nước dự kiến 12.067 tỷ đồng (Trong đó xổ số kiến thiết 349 tỷ đồng); trong đó: thu nội địa là 7.250 tỷ đồng, thuế xuất nhập khẩu là 4.468 tỷ đồng.

- Tổng chi ngân sách địa phương dự kiến chi 4.186,7 tỷ đồng (trong đó kể chi nguồn xổ số kiến thiết là 349 tỷ đồng).

(2). Các chỉ tiêu xã hội:

- Giảm tỷ suất sinh thô 0,2%o, giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên xuống còn 1,14%.

- Phấn đấu có 80% xã, phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập bậc Trung học.

- Phấn đấu 72% trạm y tế có bác sỹ trong định biên; 95% xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế; 4 bác sỹ và 17 giường bệnh/1 vạn dân.

- Giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng còn 15%, trẻ em dưới 2 tuổi còn 9%.

- Tạo việc làm mới cho 85 ngàn lao động. Tuyển mới đào tạo nghề cho 55.500 người. Nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 51%-52%, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 39%.

- Hạ tỷ lệ hộ nghèo còn 1,45% vào cuối năm 2009 (theo tiêu chuẩn năm 2008).

- Toàn tỉnh có 85% ấp, khu phố và 93% hộ gia đình đạt danh hiệu ấp, khu phố văn hóa, hộ gia đình văn hóa.

- Tỷ lệ hộ dùng điện đạt 98,5%.

- Mật độ điện thoại đạt 80 thuê bao/100 dân.

(3). Chỉ tiêu môi trường:

- Tỷ lệ hộ dùng nước sạch: Khu vực đô thị đạt 98%, khu vực nông thôn đạt 85,6%.

- Tỷ lệ che phủ rừng đạt 28,16%, tăng 0,66% so với năm 2008.

- Thu gom và xử lý chất thải y tế đạt 90%, thu gom xử lý chất thải nguy hại đạt 45%, thu gom xử lý rác thải sinh hoạt đạt 77%.

III. DỰ KIẾN MỘT SỐ CÂN ĐỐI:

 1. Lao động và việc làm:

Năm 2009, dân số trong độ tuổi lao động có khoảng 1.631.500 người; số lao động có khả năng lao động trong năm 2009 khoảng 1.214.840 người; số lao động tham gia trong nền kinh tế quốc dân là 1.198.612 người, trong đó: Lao động khu vực thành thị là 570.126 người, lao động khu vực nông thôn là 1.063.474 người; trong đó: Lao động nông, lâm, thuỷ sản là 443.966 người, chiếm 37% trong nền kinh tế quốc dân;  lao động công nghiệp và xây dựng là 388.350 người, chiếm 32,4%; lao động dịch vụ là 366.775 người, chiếm 30,6% .

Dự kiến năm 2009 giải  quyết việc làm cho 85.000 người, trong đó: Lao động trong nước là 84.500, đưa lao động đi làm việc và học nghề nước ngoài là 500 người. Giảm tỷ lệ thất nghiệp khu vực đô thị còn 2,6%, nâng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động khu vực nông thôn lên 88%.

Để thực hiện nhiệm vụ trên, trước mắt củng cố nâng cao chất lượng hoạt động các trung tâm dịch vụ việc làm, các trung tâm dạy nghề và các trường dạy nghề; nâng cao số lượng và chất lượng đào tạo dạy nghề gắn với việc tư vấn việc làm cho người lao động; gắn công tác đào tạo nghề với công tác giải quyết việc làm cho người lao động. Thực hiện kế hoạch “sàn giao dịch việc làm” cho người lao động.

2. Cân đối thu chi ngân sách:

- Tổng thu ngân sách nhà nước dự kiến 12.067 tỷ đồng (trong đó xổ số kiến thiết 349 tỷ đồng), tăng 4,6% so ước thực hiện năm 2008; trong đó: thu nội địa là 7.250 tỷ đồng, tăng 1,2% so ước thực hiện năm 2008; thuế xuất nhập khẩu là 4.468 tỷ đồng, tăng 10,3% so ước thực hiện năm 2008.

- Tổng chi ngân sách địa phương dự kiến chi 4.186,7 tỷ đồng (trong đó xổ số kiến thiết là 349 tỷ đồng), tăng 14,2% so với ước thực hiện năm 2008. Trong đó: Chi đầu tư phát triển là 1.235,49 tỷ đồng, chi thường xuyên là 2.443,9 tỷ đồng.

3. Cân đối xuất nhập khẩu:

Dự kiến kim ngạch xuất khẩu năm 2009 là 8,424 tỷ USD, trong đó: xuất khẩu doanh nghiệp Trung ương là 207 triệu USD, doanh nghiệp địa phương là 476 triệu USD, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 7,74 tỷ USD. Kim ngạch nhập khẩu năm 2009 là 10,102 tỷ USD, trong đó: nhập khẩu doanh nghiệp Trung ương là 104 triệu USD, doanh nghiệp địa phương là 209 triệu USD, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 9,789 tỷ USD.

4. Cân đối đầu tư phát triển:

Tổng huy động vốn đầu tư phát triển là 28.000 tỷ đồng, chiếm 43,3%GDP, tăng 4,7% so với năm 2008. Trong đó :  vốn trong nước chiếm 47,1%, vốn nước ngoài chiếm 52,9%.  

Riêng đối với nguồn vốn ngân sách tỉnh, thực hiện phân cấp nhiều hơn cho cấp huyện để chủ động đầu tư hạ tầng nông nghiệp, nông thôn.

IV. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGÀNH VÀ LĨNH VỰC:

A. Về kinh tế:

1. Phát triển công nghiệp:

- Tiếp tục triển khai chương trình phát triển sản phẩm công nghiệp chủ lực của tỉnh giai đoạn 2006-2010 (gồm 16 nhóm sản phẩm công nghiệp chủ lực).

- Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp theo hướng ưu tiên kêu gọi các tập đoàn kinh tế lớn có tiềm năng về công nghệ, thị trường và vốn đầu tư, khuyến khích đầu tư vào các ngành công nghiệp kỹ thuật cao, các sản phẩm có hàm lượng công nghệ, có giá trị gia tăng cao, như ngành công nghiệp cơ khí, sản xuất máy móc thiết bị điện - điện tử, công nghệ thông tin, viễn thông, vật liệu mới.

- Tập trung phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ (tăng tỷ lệ nội địa hóa), phục vụ ngành công nghiệp cơ khí: linh kiện ô tô, xe máy, cơ khí chế tạo; công nghiệp phụ trợ ngành điện, điện tử: linh kiện sản xuất trang thiết bị điện, linh phụ kiện điện tử dân dụng và công nghiệp; công nghiệp phụ trợ phục vụ ngành may, giày dép.

- Tiếp tục ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp chủ lực, công nghiệp có lợi thế so sánh, sử dụng nguồn nguyên liệu tại chỗ nhất là nguyên liệu từ nông nghiệp, các ngành nghề truyền thống.

- Hạn chế bố trí các dự án sử dụng nhiều lao động thuộc các ngành may mặc, giày dép vào các địa bàn TP. Biên Hoà, huyện Long Thành và Nhơn Trạch ; khuyến khích các dự án sử dụng nhiều lao động thuộc các ngành may mặc, giày dép đầu tư vào địa bàn các huyện miền núi như Xuân Lộc, Định Quán, Tân Phú.

- Đẩy mạnh hoạt động công tác khuyến công, khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống, phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp đa dạng đáp ứng nhu cầu tại chỗ và tham gia xuất khẩu.

- Phấn đấu giá trị sản xuất công nghiệp là 91.584 tỷ đồng (giá cố định 1994), tăng 20% so với năm 2008 ; trong đó : khu vực công nghiệp Trung ương là 9.648 tỷ đồng, tăng 12%, khu vực công nghiệp địa phương là 3.261 tỷ đồng, tăng 10%, khu vực ngoài quốc doanh là 11.720 tỷ đồng, tăng 19%, khu vực đầu tư nước ngoài là 66.956 tỷ đồng, tăng 22%.

2. Phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn

- Đảm bảo đủ giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật cho cây trồng; phát triển mạnh cây công nghiệp gắn với phát triển vùng nguyên liệu và công nghiệp chế biến, nhất là các nông sản hàng hoá có giá trị hiệu quả cao trên thị trường trong nước và xuất khẩu.

- Hướng dẫn nông dân áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ trên cây trồng để giảm chi phí đầu tư, tăng năng suất, chất lượng, tăng lợi nhuận và không giảm độ phì nhiêu của đất.

- Phát triển chăn nuôi theo hướng tập trung, hiệu quả, bền vững và an toàn thực phẩm; cải tạo và lai tạo đàn giống tốt, đảm bảo thức ăn gia súc, kỹ thuật tiên tiến nhằm phát triển nhanh ngành chăn nuôi theo hướng công nghiệp.

- Tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm khai thác trái phép, bảo vệ và phát triển rừng ; tích cực trồng rừng tập trung và phân tán để nâng cao độ che phủ của rừng.

- Đầu tư nuôi trồng thuỷ sản, phát triển nuôi cá các hồ chứa bảo đảm bền vững môi trường sinh thái, không gây ô nhiễm nguồn nước.

- Thực hiện xã hội hoá dịch vụ ở nông thôn, phát triển hệ thống khuyến nông, dịch vụ thuỷ lợi, thú y, bảo vệ thực vật và cung ứng vật tư cho phát triển nông nghiệp.

- Phấn đấu đạt giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản là 7.480,6 tỷ đồng, tăng 5,6% so với năm 2008. Trong đó : giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 6.871,6 tỷ đồng, tăng 5,5% ; giá trị sản xuất lâm nghiệp đạt 83,4 tỷ đồng, tăng 2% ; giá trị sản xuất thuỷ sản đạt 525,6 tỷ đồng, tăng 8%.

3. Phát triển thương mại, dịch vụ, du lịch :

- Tiếp tục triển khai thực hiện chương trình phát triển dịch vụ phục vụ các khu công nghiệp, chương trình phát triển thương mại, du lịch; chương trình của UBND tỉnh về phát triển kinh tế Đồng Nai nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của WTO; chương trình phát triển xuất khẩu giai đoạn 2006-2010.

- Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển các ngành dịch vụ chất lượng cao, dịch vụ có giá trị gia tăng cao như tài chính, ngân hàng, bất động sản, công nghệ, viễn thông, vận tải, kho bãi…

- Tiếp tục thực hiện công tác xúc tiến thương mại để phát huy thị trường sẵn có đồng thời khai thông thị trường mới phục vụ cho xuất khẩu.

- Quy hoạch và khuyến khích đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng thương mại phù hợp với các loại hình thương mại hiện đại, tập trung, qui mô lớn, dành quỹ đất thích hợp cho đầu tư hạ tầng thương mại tại các khu đô thị.

- Hoàn thiện quy hoạch và triển khai hệ thống lưu thông, phân phối đối với mặt hàng trọng yếu gồm có : xăng dầu, sắt thép, xi măng, phân bón, thuốc chữa bệnh.

- Đẩy mạnh phát triển du lịch theo hướng du lịch sinh thái kết hợp tìm hiểu văn hoá lịch sử, tìm hiểu cội nguồn ; không ngừng đầu tư và nâng cấp các điểm tham quan du lịch nhằm khai thác tiềm năng du lịch hiện có trên địa bàn tỉnh.

- Nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải, đáp ứng nhu cầu vận tải các mặt hàng chủ yếu và phục vụ nhu cầu cơ bản của nền kinh tế. Tăng cường năng lực vận tải cả về số lượng, chất lượng phương tiện, vận chuyển hàng hoá, hành khách, nâng cao hiệu quả của bộ máy điều hành.

- Phát triển và thúc đẩy thị trường dịch vụ bưu chính, viễn thông, nâng cao chất lượng dịch vụ và tiếp tục giảm chí phí, hạ giá thành. Phấn đấu doanh thu bưu chính viễn thông đạt 1.850 tỷ đồng, tăng 3,6% so với năm 2008 ; mật độ điện thoại đạt 80 thuê bao/100 dân, mật độ Internet đạt 19 thuê bao/100 dân.

- Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ đạt 49.336 tỷ đồng, tăng 35% so với năm 2008.

4. Huy động vốn đầu tư phát triển :

Đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến đầu tư, huy động các nguồn vốn cho đầu tư phát triển trên địa bàn. Tăng cường quản lý nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư. Bố trí, điều chỉnh cơ cấu vốn đầu tư phù hợp với yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn, đảm bảo phát triển ổn định, bền vững. Tạo môi trường thuận lợi để thu hút mạnh dự án đầu tư trong nước và nước ngoài vào các khu công nghiệp, cụm công nghiệp; nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và các nguồn vốn hợp pháp khác.

- Chi đầu tư phát triển năm 2009 từ vốn ngân sách cần tập trung bố trí cho các dự án chuyển tiếp, dự án trọng điểm. Phân cấp cho cấp huyện đầu tư hạ tầng nông nghiệp nông thôn.

5. Tài chính – ngân hàng:

- Năm 2009 là năm thứ ba của thời kỳ ổn định ngân sách mới theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước; dự toán ngân sách địa phương năm 2009 được xây dựng theo hướng tích cực, bám sát dự báo phát triển của nền kinh tế và các chính sách chế độ thu, tăng cường xử lý dứt điểm các khoản nợ đọng thuế, chống thất thu, trốn lậu thuế và gian lận thương mại.

- Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh Đồng Nai phát huy vai trò quản lý Nhà nước trên địa bàn, chủ động và chịu trách nhiệm triển khai chủ trương chính sách của ngành, của tỉnh  theo định kỳ, hàng tháng, đột xuất khi thị trường có diễn biến phức tạp, có thay đổi về chủ trương, chính sách để tạo mọi điều kiện cho phát triển kinh tế xã hội địa phương. Tập trung thanh tra chất lượng hoạt động tín dụng, kiểm tra lãi suất, tỷ giá, ngoại hối các tổ chức tín dụng, bàn thu đổi ngoại tệ trên địa bàn. Tích cực triển khai các đoàn thanh tra đối với các ngân hàng thương mại nhằm xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.

- Phấn đấu tổng nguồn vốn huy động tại chỗ tăng từ 25%-30% so với 31/12/2008. Tổng dư nợ cho vay tăng từ 15%-17% so với 31/12/2008, trong đó dư nợ tín dụng trung, dài hạn đạt tỷ trọng từ 37%-40% so với tổng dư nợ trên địa bàn. Doanh số cho vay trung, dài hạn phấn đấu tăng 18% so với năm 2008. Tỷ lệ nợ xấu (tổng nợ nhóm 3, nhóm 4 và nhóm 5) phấn đấu dưới 3%.

6. Về phát triển doanh nghiệp:

- Tiếp tục thực hiện sắp xếp đổi mới doanh nghiệp nhà nước theo kế hoạch đã được duyệt.

- Tập trung rà soát, cải cách thủ tục hành chính theo hướng tạo thuận lợi hơn nữa cho người dân và doanh nghiệp; các quy định, thủ tục về thành lập doanh nghiệp, cấp giấy chứng nhận đầu tư, thủ tục đầu tư và xây dựng, vay vốn, giải ngân ; thủ tục thuế, hải quan, đất đai, mua bán ngoại tệ, thanh toán, kiểm tra.

B. Về các lĩnh vực giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ và các lĩnh vực xã hội khác :

1. Giáo dục đào tạo :

- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý giáo dục và dạy học theo chủ trương của Bộ Giáo dục và đào tạo. Thực hiện phong trào « xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực ».

- Thực hiện chuyển đổi các trường bán công sang loại hình phù hợp, phát triển mạnh trường chuẩn quốc gia.

- Tiếp tục phát triển quy mô đào tạo, chú trọng phát triển qui mô đào tạo nghề ; gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng, tăng cường đào tạo thông qua hợp đồng đào tạo.

- Giáo dục mần non : Tăng cường các biện pháp để huy động tối đa học sinh trong độ tuổi ra lớp, nhất là trẻ mẫu giáo 5 tuổi. Quản lý chặt chẽ giáo dục mầm non ngoài công lập ; tiếp tục bồi dưỡng nghiệp vụ cho giáo viên, bảo mẫu và nuôi trẻ các nhóm, lớp mầm non ngoài công lập. Chú trọng đưa trẻ em 5 tuổi các vùng dân tộc, vùng khó khăn được đi học tại các trường mẫu giáo công lập.

- Giáo dục tiểu học: Tiếp tục thực hiện điều chỉnh dạy học và áp dụng các phương pháp dạy học tích cực ; tăng cường đổi mới kiểm tra, đánh giá theo hướng nâng cao khả năng vận dụng của học sinh cũng như kỹ năng thực hành. Tổ chức dạy học 2 buổi/ngày ở nơi có điều kiện. Tiếp tục triển khai thực hiện chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học theo quy định của Bộ Giáo dục đào tạo.

- Giáo dục trung học: Tăng cường đổi mới phương pháp dạy học các môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Giáo dục công dân theo hướng nâng cao kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức. Đổi mới kiểm tra, đánh giá, khuyến khích tự học và sáng tạo ở học sinh ; thực hiện đổi mới chương trình, sách giáo khoa lớp 12. Tổ chức Hội thao Giáo dục quốc phòng – an ninh cho học sinh THPT cấp trường và cấp tỉnh.

- Giáo dục thường xuyên: Tăng cường quản lý các Trung tâm giáo dục thường xuyên các trường bổ túc văn hoá, cơ sở giảng dạy Tin học và Ngoại ngữ, Trung tâm học tập cộng đồng. Đẩy mạnh công tác khuyến học, khuyến tài.

- Giáo dục chuyên nghiệp : Tăng cường quản lý chất lượng đào tạo của các trường chuyên nghiệp ; thực hiện đề án nâng cấp trường Cao đẳng sư phạm Đồng Nai và trường TCCN Kỹ thuật công nghiệp Đồng Nai thành trường Đại học và cao đẳng để đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực của tỉnh.

- Dự kiến tổng số học sinh đầu năm học là 536.885 học sinh. Trong đó : Mẫu giáo là 86.583 học sinh, Tiểu học là 200.728 học sinh, Trung học cơ sở là 164.868 học sinh, Trung học phổ thông là 84.706 học sinh. Tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đi học mẫu giáo đạt 99%. Tỷ lệ trẻ em đi học đúng độ tuổi : Tiểu học đạt 99%, Trung học cơ sở đạt 98%, Trung học phổ thông 70%. 

2. Khoa học và công nghệ :

- Tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ ; đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ cao. Đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động khoa học và công nghệ theo hướng hỗ trợ phát triển thị trường khoa học và công nghệ, khuyến khích và tôn vinh các tổ chức, cá nhân có sáng kiến đóng góp cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa tỉnh nhà.

- Nâng cao năng lực khoa học công nghệ nội sinh đi đôi với tăng cường tiếp thu, làm chủ, ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến của thế giới vào các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội địa phương.

- Thực hiện cơ chế tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các tổ chức khoa học và công nghệ cũng như Nghị định số 80/2007/NĐ-CP về doanh nghiệp khoa học công nghệ.

- Ứng dụng rộng rãi các tiến bộ kỹ thuật và công nghệ thích hợp cho khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc để tạo việc làm, tăng thu nhập và cải thiện đời sống nhân dân.

- Đổi mới cơ chế, chính sách, tổ chức và quản lý hoạt động nhằm khai thác và phát huy tiềm lực khoa học và công nghệ, nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế xã hội.

- Tăng cường xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho hoạt động khoa học công nghệ theo hướng tăng cường đầu tư trang thiết bị thử nghiệm phục vụ cho việc kiểm tra, đánh giá tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm.

3. Dân số gia đình và trẻ em:

- Tiếp tục thực hiện chủ trương kế hoạch hoá gia đình ; đưa công tác dân số thành nội dung quan trọng trong chương trình hoạt động cụ thể của các cấp ; cán bộ, đảng viên phải gương mẫu thực hiện kế hoạch hoá gia đình.

- Duy trì hoạt động của mạng lưới dịch vụ xã hội và giáo dục trẻ em cho gia đình và cộng đồng. Phát triển mạng lưới cộng tác viên dân số kế hoạch hoá gia đình.

- Nâng cao nhận thức vị trí, vai trò và trách nhiệm của các thành viên trong gia đình về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.

- Tăng cường các hoạt động kiểm tra sức khoẻ nhân dân, tư vấn tiền hôn nhân,  phòng chống HIV/AIDS và các tệ nạn xã hội.

- Phấn đấu tỷ lệ các cặp vợ chồng áp dụng các biện pháp tránh thai đạt 74%, thực hiện an toàn và có hiệu quả các biện pháp tránh thai. Trên 80% phụ nữ đẻ được khám thai ít nhất 3 lần trong suốt thai kỳ. 

4. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu lao động, giải quyết việc làm :

- Thực hiện nhiều giải pháp tạo việc làm mới; giảm tỷ lệ thất nghiệp; ổn định và cải thiện đời sống nhân dân.

- Giảm lao động nông, lâm nghiệp và thuỷ sản, tăng lao động công nghiệp-xây dựng và lao động dịch vụ trong cơ cấu lao động.

- Phấn đấu giải quyết việc làm cho 85.000 lao động ; trong đó có vay vốn giải quyết việc làm 6.000 lao động, xuất khẩu lao động 500 lao động). Hạ tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị từ 2,8% cuối năm 2008 xuống còn 2,6% cuối năm 2009. Nâng tỷ lệ thời gian sử dụng lao động ở nông thôn từ 87% cuối năm 2008 lên 88% vào cuối năm 2009. Cơ cấu lao động : lao động nông lâm nghiệp giảm từ 38,94% năm 2008 xuống còn 37% năm 2009 ; lao động công nghiệp tăng từ 31,2% lên 32,4% ; lao động dịch vụ tăng từ 29,86% lên 30,6%.

- Tuyển mới và đào tạo nghề cho 55.500 lao động (dài hạn 16.500 người, ngắn hạn 39.000 người) ; trong đó có 50.471 lao động được cấp bằng nghề, chứng chỉ nghề. Nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đến cuối năm 2009 lên 39%.

5. Nâng cao chất lượng công tác xoá đói giảm nghèo, khuyến khích làm giàu hợp pháp :

- Triển khai mạnh mẽ chương trình Mục tiêu quốc gia về giảm nghèo giai đoạn 2006-2010, nhất là vùng nông thôn, vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc, đặc biệt vùng khó khăn, có tỷ lệ hộ nghèo còn cao. Đổi mới các hình thức cho vay vốn, hỗ trợ kiến thức giảm nghèo kết hợp cho vay vốn sản xuất.

- Thực hiện tốt hơn xã hội hoá trong giảm nghèo, hỗ trợ người nghèo trong sản xuất kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm, giảm bớt rủi ro cho hộ nghèo. Xây dựng hệ thống thông tin giám sát, đánh giá thực hiện các mục tiêu giảm nghèo từ tỉnh xuống cấp huyện, cấp xã.

- Rà soát, đánh giá thực trạng hộ nghèo và xây dựng tiêu chí người nghèo phù hợp với mức sống thực tế hiện nay.

- Phấn đấu giảm 12.000 hộ nghèo; giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 1,45% vào cuối năm 2009 (theo chuẩn nghèo hiện nay của tỉnh).

6. Tăng cường công tác bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân :

 - Giảm tỷ lệ mắc bệnh, nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ. Tạo cơ hội để mọi người dân được cung cấp các dịch vụ y tế cơ bản, có điều kiện tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế có chất lượng.

- Nâng cao năng lực giám sát, phát hiện và khống chế dịch bệnh, đặc biệt là HIV/AIDS và các dịch bệnh mới phát sinh. Tăng cường các biện pháp kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm và phòng chống tai nạn thương tích. Hạn chế tối đa tác động tiêu cực với sức khoẻ do thay đổi lối sống, môi trường và điều kiện lao động.

- Tiếp tục đầu tư và phát triển hệ thống y tế cơ sở, tăng cường cán bộ y tế và bác sỹ về công tác tại các trạm y tế cơ sở và có chế độ khuyến khích phù hợp.

- Đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động y tế và thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế.

7. Phát triển văn hoá thông tin :

- Tiếp tục thực hiện mục tiêu xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Nâng cao tính văn hoá trong mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội và sinh hoạt của nhân dân.

- Đẩy mạnh phong trào « Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá » theo hướng nâng cao chất lượng.

- Phát triển mạnh hệ thống thông tin báo chí, chủ động hội nhập. Không ngừng nâng cao mức hưởng thụ văn hoá thông tin cho toàn dân, chú trọng vùng nông thôn, vùng đồng bào dân tộc.

8. Phát triển thể dục thể thao :

 Đẩy mạnh hoạt động thể thao cả về quy mô và chất lượng. Thực hiện xã hội hoá thể thao nhằm khuyến khích, tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia hoạt động và phát triển sự nghiệp thể dục thể thao. Phát triển mạnh thể thao quần chúng.

C. Bảo vệ tài nguyên, môi trường và phát triển bền vững :

1.  Bảo vệ tài nguyên :

- Phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành trong quản lý, khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên; kiên quyết lập lại trật tự trong lĩnh vực này.

- Sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả và bền vững tài nguyên đất đai, tài nguyên nước và tài nguyên khoáng sản. Đẩy mạnh công tác điều tra cơ bản để quản lý và quy hoạch khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên theo định hướng phát triển bền vững.

- Hoàn thành công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong đó tập trung rà soát, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các tổ chức tôn giáo, các đơn vị quốc phòng, an ninh, các nông lâm trường.

- Tăng cường công tác thanh, kiểm tra đất đai, thực hiện kiểm tra các doanh nghiệp sau giao đất, cho thuê đất ; lập thủ tục thu hồi đất do vi phạm luật đầu tư.

2. Bảo vệ môi trường :

- Phối hợp với các tỉnh trong vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam, vùng Đông Nam bộ xây dựng giải pháp bảo vệ lưu vực các sông trong vùng, đặc biệt là lưu vực sông Đồng Nai ; phát triển nguồn nước gắn với việc bảo vệ và phát triển rừng.

- Ngăn ngừa, hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm môi trường; cải tạo và nâng cấp hệ thống thoát nước mưa và nước thải ở các đô thị và khu công nghiệp ; cải thiện chất lượng nước các sông, suối bị ô nhiễm.

- Nâng cao nhận thức cộng đồng, xây dựng nếp sống và hành vi thân thiện với môi trường ; xây dựng các phong trào quần chúng bảo vệ môi trường.

D. Quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội:

- Tăng cường củng cố quốc phòng an ninh, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, đặc biệt là các khu vực trọng điểm, các khu công nghiệp tập trung, khu dân cư, đô thị, các vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc; tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế- xã hội.

- Duy trì nghiêm các quy định, chế độ trực sẵn sàng chiến đấu; phối hợp với các sở ngành, địa phương chuẩn bị lực lượng, phương tiện tham gia PCCC, PCCN, PCCR, khắc phục hậu quả thiên tai trên địa bàn.

- Tổ chức diễn tập phòng thủ 4 huyện Định Quán, Trảng Bom, Tân Phú, thị xã Long Khánh. Chỉ đạo các địa phương tổ chức diễn tập kế hoạch chiến đấu trị an và phòng không nhân dân cho 20% xã, phường, thị trấn.

- Hoàn thành chỉ tiêu tuyển quân năm 2009, chú trọng nâng cao chất lượng chính trị và tỷ lệ Đảng viên đạt và vượt chỉ tiêu trên giao.

- Tăng cường cơ sở vật chất, kỹ thuật cho các lực lượng thực hiện chương trình quốc gia về chống tội phạm, phòng chống ma túy, an toàn giao thông, phòng cháy, chữa cháy.

- Chú trọng kết hợp củng cố quốc phòng an ninh với phát triển kinh tế xã hội, xoá đói giảm nghèo.

E. Các chương trình mục tiêu quốc gia, 12 Chương trình kinh tế xã hội của tỉnh:

- Tổ chức thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia theo kế hoạch giao.

- Tập trung thực hiện chương trình 135 giai đoạn II.

- Quan tâm thực hiện 12 Chương trình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.

V. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CẦN TẬP TRUNG TRONG NĂM 2009:

1. Tiếp tục duy trì tăng trưởng cao ngành công nghiệp, tiếp tục phát triển nông nghiệp, đẩy mạnh phát triển các ngành dịch vụ:

- Tập trung phát triển các ngành công nghiệp chủ lực, công nghiệp có lợi thế so sánh, sử dụng nguyên liệu tại chỗ, nhất là nguyên liệu từ nông nghiệp. Ưu tiên thu hút đầu tư các dự án kỹ thuật cao, dự án sản xuất công nghiệp phụ trợ, sản xuất nguyên liệu thay thế nhập khẩu và các dự án ít gây ô nhiễm môi trường.

- Triển khai đầu tư khu công nông nghiệp, khu ứng dụng công nghệ sinh học để phục vụ phát triển nông nghiệp.

- Đôn đốc, tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ đầu tư triển khai đúng tiến độ các dự án thuộc lĩnh vực dịch vụ để góp phần phát triển nhanh ngành dịch vụ.

- Tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng đáp ứng kết nối hạ tầng ngoài hàng rào các khu công nghiệp và yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, đặc biệt quan tâm đầu tư hạ tầng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn.

2. Tăng cường quản lý thị trường, chống thất thu thuế :

- Tăng cường quản lý chặt chẽ tình hình giá cả thị trường, nhất là các mặt hàng thiết yếu phục vụ cho sản xuất và đời sống như xăng dầu, sắt, thép, xi măng, phân bón và các mặt hàng thiết yếu cho đời sống như lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh.

- Tăng cường các biện pháp quản lý thu, chống thất thu, nợ đọng thuế; chống gian lận thương mại, trốn thuế. Thực hiện chi đầu tư phát triển theo kế hoạch năm, tiết kiệm chi thường xuyên.

- Tiếp tục tuyên truyền, cập nhật và cung cấp kịp thời những thông tin chính xác về các chủ trương, chính sách của nhà nước đối với biện pháp kiềm chế lạm phát, kiểm soát tăng giá, phát triển sản xuất…để tạo kênh thông tin chính thức đến người dân, góp phần định hướng dư luận, tránh những thông tin sai sự thật, có tính kích động, gây tâm lý bất an trong xã hội.

3. Tập trung đầu tư các dự án cơ sở hạ tầng và đôn đốc doanh nghiệp triển khai các dự án sản xuất kinh doanh trên địa bàn:

- Tập trung các nguồn vốn để hoàn thành các công trình chuyển tiếp, công trình trọng điểm, các công trình có tác dụng trực tiếp đến phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, đặc biệt là khu vực nông nghiệp nông thôn. Nguồn vốn ngân sách tập trung cho đầu tư hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng nông thôn.

- Chỉ đạo triển khai đúng tiến độ các dự án sử dụng vốn ngân sách ; tập trung triển khai và giải ngân các dự án FDI, các dự án của các doanh nghiệp trong nước đầu tư trên địa bàn theo tiến độ xác định trong giấy chứng nhận đầu tư.

4. Tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp:

Tiếp tục thực hiện chính quyền đồng hành cùng doanh nghiệp; trong năm lãnh đạo tỉnh tổ chức Hội nghị gặp mặt doanh nghiệp để nghe phản ánh những khó khăn vướng mắc, trên cơ sở đó có hướng giải quyết tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển sản xuất hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền giải quyết kịp thời cho doanh nghiệp.

5. Lĩnh vực văn hoá xã hội :

- Quan tâm chất lượng giáo dục đào tạo (kể cả đào tạo nghề).

- Tập trung vận động xã hội hoá các lĩnh vực giáo dục, đào tạo nghề và phát triển nguồn nhân lực,  y tế, văn hoá, thể dục thể thao, khoa học công nghệ.

- Tiếp tục chăm lo đời sống người nghèo, đảm bảo an sinh xã hội, theo dõi nắm tình hình đời sống của nông dân ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số để có biện pháp hỗ trợ kịp thời; hỗ trợ đúng đối tượng nghèo, khó khăn.

- Tập trung giải quyết những vấn đề bức xúc của xã hội như đơn thư tố cáo, khiếu nại của công dân, tội phạm, ma tuý, tai nạn và ùn tắc giao thông. 

6. Các biện pháp về quản lý đất đai, tài nguyên và bảo vệ môi trường:

- Thực hiện rà soát cập nhật điều chỉnh, bổ sung quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch ngành đảm bảo đồng bộ và phù hợp quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội. Kiểm tra việc sử dụng đất của các đơn vị được giao đất đảm bảo việc sử dụng đúng mục đích, phù hợp quy hoạch.

- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật nâng cao nhận thức và trách nhiệm bảo vệ môi trường trong cộng đồng xã hội, cộng đồng dân cư.

- Thực hiện lồng ghép các yếu tố bảo vệ môi trường trong công tác lập và thực hiện quy hoạch, kế hoạch của các ngành, các địa phương để chủ động triển khai ngăn ngừa, phòng chống ô nhiễm môi trường trong phát triển kinh tế xã hội.

- Tổ chức thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các đơn vị gây ô nhiễm môi trường; đôn đốc đầu tư nhanh tiến độ xây dựng các dự án về thu gom xử lý nước thải, rác thải; đặc biệt là các khu xử lý nước thải tập trung trong khu công nghiệp.

- Thực hiện tốt chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn.

7. Đẩy mạnh cải cách hành chính, phát huy hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước đáp ứng yêu cầu phát triển:

- Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, trọng tâm là thủ tục hành chính.

- Không ngừng cải cách và nâng cao hiệu quả cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” tại các cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp dịch vụ công.

- Thực hiện tốt công tác cán bộ, nhất là đối với đội ngũ cán bộ chủ chốt, có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trí tuệ, tâm huyết và có trách nhiệm trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao. Đồng thời nâng cao vai trò và trách nhiệm của người đứng đầu.

8. Tăng cường công tác phòng chống tham nhũng:

- Triển khai đồng bộ Nghị quyết 04/NQ-TU của Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí”; Chương trình hành động của UBND tỉnh về thực hiện Luật phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra trên các lĩnh vực.

Trên đây là báo cáo tình hình kinh tế xã hội, quốc phòng an ninh năm 2008; Phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp thực hiện kế hoạch năm 2009; UBND tỉnh báo cáo tại kỳ họp thứ 14 của Hội đồng nhân dân tỉnh khóa VII - nhiệm kỳ 2004-2009, xét thông qua./.                                                                            

  Mail    Bản in    Về đầu trang  
Các bài khác:
  Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 12 và ước thực hiện cả năm 2008
  Báo cáo tình hình KT - XH tháng 11 và thực hiện 11 tháng đầu năm 2008
  Tình hình kinh tế - xã hội tháng 02 và thực hiện 02 tháng đầu năm 2008
  Tình hình kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh Quý I năm 2008
  Tình hình kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh tháng 4, thực hiện 4 tháng đầu năm 2008
  Tình hình kinh tế - xã hội, quốc phòng-an ninh tháng 01-2008
  Báo cáo tình hình KT-XH tháng 10 và thực hiện 10 tháng đầu năm 2008
  Tình hình kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh 6 tháng đầu năm 2008
  Tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 và thực hiện 7 tháng đầu năm 2008
[1] 2 Sau